Tuesday, March 7, 2017

Ba ngộ nhận về quan hệ kinh tế Trung Quốc - ASEAN

Các đánh giá thường thể hiện Trung Quốc là đối tác kinh tế quan trọng nhất đối với các nước Đông Nam Á. Nhưng theo quan điểm của tác giả, thực chất lại hoàn toàn không phải vậy. 

Năm 2005, Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân đưa ra luận thuyết của ông về sự trỗi dậy lịch sử và tương lai của Đảng Cộng sản Trung Quốc, gọi đó là thuyết Ba đại diện. Tại hội nghị cấp cao của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mới đây nhất tại Kuala Lumpur, theo khẩu hiệu gồm 3 phần “người dân của chúng ta, cộng đồng của chúng ta, tầm nhìn của chúng ta”, các nhà lãnh đạo của 10 nước thành viên đã hoan nghênh sự hình thành của Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột: cộng đồng kinh tế ASEAN, cộng đồng chính trị-an ninh ASEAN và cộng đồng xã hội-văn hóa ASEAN.

Cùng với việc Trung Quốc-ASEAN đón nhận “cỗ xe tam mã” này, tác giả muốn vạch trần 3 sự ngộ nhận ở khắp nơi về các mối quan hệ kinh tế hiện tại của Trung Quốc-ASEAN. Thứ nhất là sức ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Thứ hai là sự đánh đồng ASEAN (một tổ chức liên chính phủ lỏng lẻo) với Đông Nam Á (một khu vực gồm 10 nhà nước đa sắc tộc). Thứ ba là bản chất của cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung liên quan đến các thỏa thuận thương mại khu vực. Mỗi một điều trong 3 “sự ngộ nhận” này đứng riêng sẽ khiến chúng ta khó có khả năng hiểu được những đường hướng hiện tại và trong tương lai của mối quan hệ kinh tế Trung Quốc-ASEAN. Tuy nhiên, chúng thường xuất hiện như là lẽ phải thông thường, trong khi trên thực tế chúng không là lẽ phải mà cũng chẳng thông thường.


Ưu thế của Trung Quốc
Dựa trên toàn bộ số liệu thống kê thương mại, Trung Quốc thường được thể hiện là đối tác kinh tế quan trọng nhất đối với tất cả các nước Đông Nam Á. Trái lại, Mỹ và Nhật Bản thường được thể hiện là đang nhanh chóng suy giảm sức ảnh hưởng, trong khi đó Liên minh châu Âu, Hàn Quốc và Đài Loan hiếm khi được đề cập đến. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất đối với các nền kinh tế Đông Nam Á với tư cách là một nhóm và đối với mỗi nước, ngoại trừ Brunei. Ưu thế của Trung Quốc khi đề cập đến hàng hóa nhập khẩu thậm chí còn lớn hơn. Theo toàn bộ số liệu thống kê thương mại ASEAN, năm 2014, Trung Quốc chiếm nhiều hơn 1 trong mỗi 5 USD hàng nhập khẩu vào Đông Nam Á. EU với 28 nước thành viên chiếm 1 trong mỗi 8 USD và Nhật Bản là 1 trong mỗi 10 USD. 
Nhưng có 2 vấn đề với việc sử dụng thiếu thận trọng tập hợp số liệu thống kê thương mại sẵn có làm thước đo cho sức ảnh hưởng kinh tế tương đối và là hệ quả cho quyền tôn trọng ngoại giao. Thứ nhất là vấn đề về chiều sâu. Đối với 6 nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á – Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philippines và Việt Nam tương ứng (cũng được biết đến là SEA-6) – một phần đáng kể cả hàng xuất khẩu đến lẫn nhập khẩu từ Trung Quốc là kết quả của việc đặt các kết nối dây chuyền sản xuất khu vực và toàn cầu ở Trung Quốc và 6 nền kinh tế đó.
Tuy nhiên, đa số dây chuyền sản xuất không được kiểm soát bởi các hãng của Trung Quốc mà là bởi các hãng của Nhật Bản, Hàn Quốc, EU và Mỹ, các hãng sở hữu và được lợi từ quyền sở hữu trí tuệ “bôi trơn” cho các dây chuyền này. Samsung là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Do đó việc diễn giải tập hợp số liệu thống kê thương mại sẵn có giữa Trung Quốc và Đông Nam Á hay Trung Quốc và mỗi nền kinh tế trong SEA-6 thành thước đo về sự phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc hoặc ảnh hưởng đòn bẩy kinh tế tiềm năng của Trung Quốc đối với các nền kinh tế và những nhà nước này là sai lầm.

Thứ hai, vấn đề nguy hại hơn là một vấn đề về chiều rộng. Tập hợp các số liệu thống kê sẵn có chỉ là một thước đo và có khả năng không phải là thước đo tốt nhất về hội nhập kinh tế, tầm quan trọng hoặc sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Mặt khác, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã và đang là yếu tố tác động đến thương mại của các nền kinh tế Đông Nam Á với thế giới. Nếu người ta nhìn vào dữ liệu UNCTAD về dòng chảy FDI vào Đông Nam Á, sẽ thấy chúng kể một câu chuyện rất khác so với các con số thương mại sẵn có. Ngoài Campuchia, Lào và Myanmar, Trung Quốc không phải là nguồn FDI chủ yếu cả về phương diện cổ phiếu lẫn phần lớn dòng tiền chảy vào đối với các nền kinh tế Đông Nam Á.


Vào cuối năm 2012, FDI của Nhật Bản đổ vào khu vực dưới dạng cổ phiếu lớn hơn gấp 5 lần so với của Trung Quốc, trong khi của EU thì lớn hơn gần 9 lần. FDI dưới dạng cổ phiếu của Đài Loan bằng một nửa so với nước láng giềng khổng lồ bên kia eo biển. FDI dưới dạng cổ phiếu của Mỹ ở quốc đảo Singapore nhỏ bé lớn hơn gấp 3 lần quy mô tổng đầu tư của Trung Quốc trong khu vực. Mặc dù Trung Quốc là nguồn cung vốn FDI lớn nhất cho Campuchia, Lào và Myanmar, theo thứ tự, nhưng nó không nằm trong số 5 nước đầu tư FDI nhiều nhất cho bất kỳ nước nào thuộc SEA-6. Có một sự tương quan tỷ lệ nghịch mạnh mẽ giữa mức độ phát triển kinh tế và mở cửa của các nền kinh tế Đông Nam Á với sự phụ thuộc của họ vào FDI Trung Quốc. Thành công kinh tế gần đây của Việt Nam là một ví dụ rõ ràng về điều này, bất chấp việc là một nước láng giềng và hệ thống chính trị tương đồng của Trung Quốc.

Những dữ liệu thống kê kinh tế quan trọng khác làm xáo trộn hiểu biết thông thường về ưu thế của Trung Quốc. Chẳng hạn, những khoản kiều hối là hình thức cá nhân trực tiếp hơn về trao đổi kinh tế xuyên biên giới và có thể được cho là hình thức đóng góp trực tiếp lớn nhất nhằm làm giảm đói nghèo. Nền kinh tế Philippines nhận được dòng kiều hối chảy vào lớn nhất so với bất kỳ nền kinh tế nào trong khu vực và ngân hàng trung ương của nước này theo dõi sát sao chiếc phao cứu sinh kinh tế này. Theo các con số của Bangko Sentral, năm 2014, các khoản tiền được chuyển từ Mỹ chiếm 42,6% trong 24,3 tỷ USD đổ vào nước này. Singapore là nguồn cung vốn quan trọng nhất Đông Á, cung cấp 4,8%, Nhật Bản đứng sau với 4%.


Tuy nhiên, Trung Quốc chiếm không đáng kể về mặt thống kê là 0,1% lượng kiều hối chuyển về Philippines, ít hơn gấp 2 lần các dòng chảy từ nhà nước có dân số thấp nhất của Đông Nam Á, Brunei. Việc ngân hàng cho vay và đầu tư gián tiếp là những số liệu thống kê khác không phù hợp với quan điểm dựa trên tổng thương mại có thể có về ưu thế kinh tế hiện nay và đang gia tăng mạnh mẽ của Trung Quốc.
ASEAN = Đông Nam Á
Nghiên cứu về các nhà nước và xã hội Đông Nam Á bị cản trở bởi xu hướng ngày càng tập trung vào Đông Nam Á như là một khu vực chứ không vào các nhà nước riêng lẻ của nó, và sau đó bị ảnh hưởng xấu hơn nữa bởi sự đánh đồng ASEAN với Đông Nam Á. Sự đánh đồng này lan rộng trong cộng đồng học thuật và trong ngôn ngữ ngoại giao và kinh doanh ở khu vực tới mức có nguy cơ trở thành một ảo tưởng có khả năng gây ảnh hưởng. Việc nói về EU như là một khu vực kinh tế thì đáng tin cậy hơn nhiều, do các mức độ lớn hơn nhiều của hội nhập kinh tế, sự phụ thuộc lẫn nhau và quyền tự do đi lại giữa các nền kinh tế thành viên EU, sự giống nhau tương đối về mức độ phát triển kinh tế và cơ cấu công nghiệp, phạm vi và quyền thực thi pháp lý của luật pháp EU, và thực tế rằng EU là một liên minh hải quan.

Đông Nam Á lại đa dạng hơn nhiều về mặt kinh tế so với châu Âu. GDP đầu người của Singapore theo giá đồng USD hiện hành là cao hơn gần 60 lần so với của Myanmar, nền kinh tế nghèo nhất Đông Nam Á. Trong khi tính theo đầu người Malaysia là nền kinh tế giàu có thứ ba Đông Nam Á, nó chỉ bằng 1/5 Singapore, nhưng lại giàu hơn gấp 3 lần so với Indonesia, nền kinh tế giàu có thứ 5 và lớn nhất ở Đông Nam Á. Về quyền tự do kinh tế, bằng chứng về sự đa dạng và sự khác biệt một lần nữa lấn át bằng chứng về sự tương đồng và thống nhất.


Theo xếp hạng tự do kinh tế gần đây nhất của Heritage Foundation, Singapore là nền kinh tế tự do thứ hai trên thế giới sau Hong Kong. Myanmar ít tự do nhất trong 10 nền kinh tế Đông Nam Á, đứng thứ 158 trên 178. Indonesia đứng thứ 99. Với một vài ngoại lệ, (Brunei tồi tệ hơn và Philippines khá giả hơn), xếp hạng khu vực về tự do kinh tế phù hợp với xếp hạng về của cải theo đầu người. Nền kinh tế càng tự do, người dân càng giàu có.
Giả định vốn có khi đề cập đến ASEAN như là một khu vực hoặc một nền kinh tế là tư cách thành viên trong nhóm mang tính khu vực này là đặc điểm quyết định cho sự hội nhập của các nền kinh tế Đông Nam Á với nhau và với thế giới rộng lớn hơn. Một lần nữa, điều này khó có thể duy trì. Mặc dù các nhà nước thành viên bị ràng buộc bởi Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN, nhưng cơ chế tranh chấp của nó chưa bao giờ được kích hoạt. Đây là tình huống bất chấp những vi phạm rõ ràng, vì lý do rằng điều đó sẽ chống lại cái gọi là “Phương thức ASEAN”.
Các nhà nước Đông Nam Á đã sử dụng ASEAN như là một phương tiện để đàm phán các thỏa thuận thương mại ưu tiên với 6 nền kinh tế khác, với nhiều thỏa thuận nữa sắp diễn ra. Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng những thỏa thuận này là quá thấp và các nền kinh tế giàu có hơn, tiên tiến hơn trong khu vực có những thỏa thuận thương mại sâu rộng hơn được đàm phán với các đối tác thương mại then chốt ngoài ASEAN. Thực tế rằng Singapore, Brunei, Malaysia và Việt Nam là các bên ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một bằng chứng rõ ràng cho điều này, cũng như sự quan tâm được bày tỏ của Thái Lan, Indonesia và Philippines tham gia vòng thứ hai của TPP. Điều này khiến cho chỉ còn Campuchia, Lào và Myanmar phụ thuộc chủ yếu vào ASEAN để có được những thỏa thuận thương mại quan trọng nhất của họ.
Cuối cùng, bất chấp chức năng trung chuyển của Singapore, các kết nối thương mại và đầu tư giữa các nền kinh tế Đông Nam Á tương đối yếu và, với một số ngoại lệ, không tăng cường nhanh chóng. Sự chi phối của Singapore đối với các dòng chảy đầu tư và thương mại trong Đông Nam Á và các con số không cân xứng đáng kể trong khu vực không phải là điều tương tự ở EU. Đông Nam Á có 10 nền kinh tế khá đa dạng không được hội nhập tốt với nhau và mặc dù ASEAN quan trọng, nhưng nó còn lâu mới là một nguồn mang tính quyết định cho sự hội nhập này hoặc cho sự hội nhập toàn cầu của các nền kinh tế này.
Chiến tranh lạnh Mỹ-Trung
Giờ đây, điều mong đợi là thể hiện những nỗ lực đang diễn ra để đàm phán các thỏa thuận thương mại ưu đãi trong khu vực ở châu Á-Thái Bình Dương như là hiện thân của cuộc đấu tranh theo tư tưởng Mani giáo nhằm giành được ưu thế khu vực giữa Mỹ và Trung Quốc. Việc Tổng thống Barack Obama đề cập đến TPP như là một cơ chế để cho phép Mỹ (chứ không phải Trung Quốc) viết ra các quy tắc về trật tự kinh tế khu vực đã gia tăng sự hiểu biết thông thường này. Tuy nhiên, các quan chức và truyền thông đại chúng Trung Quốc, sau khi mới đầu kịch liệt chỉ trích TPP là âm mưu của Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc về kinh tế, giờ đây lại công khai cân nhắc khả năng Trung Quốc gia nhập TPP trong vòng hai hoặc sau đó. Nếu TPP chủ yếu là vũ khí của Mỹ trong sự kình địch chiến lược của nước này với Trung Quốc, thì việc Trung Quốc gia nhập nó sẽ là một sự đầu hàng có điều kiện. Nếu không thì ý tưởng rằng TPP chủ yếu là một vũ khí như vậy sẽ được chứng minh là sai.

Xu hướng coi các thỏa thuận thương mại là vũ khí trong sự kình địch Mỹ-Trung thậm chí còn khó duy trì hơn khi đề cập đến Trung Quốc. Chẳng hạn, nhiều chuyên gia và các nhà bình luận coi tiến trình Quan hệ đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) bao gồm Trung Quốc chứ không có Mỹ là câu trả lời của Trung Quốc đối với TPP. Tuy nhiên, xét cho cùng RCEP không phải do Trung Quốc dẫn dắt, đó là do ASEAN dẫn dắt sau khi các nước thành viên ASEAN phản đối thông qua sáng kiến trước đó của Trung Quốc về Thỏa thuận Thương mại Tự do Đông Á. Trên thực tế, Indonesia là chủ tịch RCEP.


Hơn nữa, Mỹ không phải là một phần của các cuộc đàm phán, không phải vì Trung Quốc ngăn cản Mỹ, mà là bởi việc gia nhập RCEP đòi hỏi các nhà nước không thuộc ASEAN phải có thỏa thuận thương mại ưu đãi từ trước với ASEAN. Mỹ không có và không dự định bắt đầu đàm phán một thỏa thuận thương mại Mỹ-ASEAN. EU, Nga và Đài Loan cũng vậy.
Năm 2014, khi đăng cai Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Chủ tịch Tập Cận Bình đã bắt chước Tổng thống Mỹ George H.W.Bush và tán thành ý tưởng đã có từ cả thập kỷ là sử dụng APEC, một diễn đàn thương mại gồm cả Mỹ và Trung Quốc, để hướng tới Khu vực Thương mại Tự do châu Á-Thái Bình Dương (FTAAP) mà sẽ bao gồm tất cả 21 nền kinh tế APEC và hơn thế nữa. Các nhà lãnh đạo APEC đã công nhận cả tiến trình TPP do Mỹ dẫn dắt lẫn RCEP do ASEAN dẫn dắt là “những con đường mòn” dẫn tới thỏa thuận lớn hơn này. Nếu 9 nền kinh tế APEC hiện không nằm trong TPP tham gia, thì hoàn toàn có sự chồng lấn giữa TPP và APEC.

Việc Chủ tịch Tập Cận Bình sử dụng FTAAP làm tiêu điểm chính cho năm APEC của Trung Quốc được dư luận rộng rãi coi là một động thái nhằm chống lại TPP; Mỹ đâm, Trung Quốc đỡ. Tuy nhiên, FTAAP, như các nhà lãnh đạo tại APEC đã nhất trí, là một tham vọng dài hạn. Về một nghĩa nào đó, TPP là con đường tiên tiến nhất dẫn đến FTAAP. Mỹ là nền kinh tế lớn nhất và tiên tiến nhất được cân nhắc đến và xem xét tham gia FTAAP, và các nước thành viên TPP hiện tại chiếm 2/3 GDP tích lũy của APEC. Rất khó để xem làm thế nào mà FTAAP có thể là đối trọng với TPP, trừ phi ai đó muốn áp thực tế, dù có gượng gạo đến đâu, cho khớp với giả định có từ trước về sự kình địch Mỹ-Trung như là động lực chủ yếu cho động thái hiện tại đối với các thỏa thuận thương mại siêu khu vực giữa các nhà nước châu Á-Thái Bình Dương. Vượt qua được các cuộc đàm phán thương mại toàn cầu bế tắc và sự thiếu hiệu quả của các thỏa thuận thương mại song phương lỗi thời trên khắp châu Á-Thái Bình Dương là những động lực mạnh mẽ hơn và tích cực hơn của tiến trình TPP và RCEP, và có lẽ cũng cả các nguyện vọng thành lập FTAAP.


Đường hướng cho mối quan hệ Trung Quốc-ASEAN

Hiểu được 3 “ngộ nhận” ở khắp nơi này giúp làm rõ tình hình hiện tại và đường hướng có khả năng của các mối quan hệ Trung Quốc-ASEAN. Thứ nhất, những nỗi lo sợ của Đông Nam Á về ưu thế kinh tế của Trung Quốc ở Đông Á đơn giản chỉ là những nỗi sợ hãi. Ngay cả khi Trung Quốc muốn trở thành bá chủ, điều mà Bắc Kinh bác bỏ kịch liệt, ngoài Campuchia, Lào và Myanmar, nước này không có sức ảnh hưởng để thành công. Thứ hai, tương lai của các thỏa thuận thương mại và thương mại khu vực không phải là con tin cho sự cạnh tranh Mỹ-Trung, và vai trò trung tâm của ASEAN không bị làm xói mòn mà được tăng cường bởi những nỗ lực hiện tại đàm phán các thỏa thuận thương mại tự do siêu khu vực. Cuối cùng, đặc biệt là đối với những người quan tâm đến kinh doanh, một lời cảnh báo: Đông Nam Á không phải là một khu vực kinh tế cố kết và hội nhập, và ASEAN không phải là một tác nhân mạnh mẽ cho cả sự cố kết lẫn hội nhập lớn hơn. Thay vào đó, Đông Nam Á là một khu vực đa dạng gồm 10 nền kinh tế hoàn toàn khác nhau. Sự đa dạng, như luôn là tình huống ở Đông Nam Á, chiến thắng sự thống nhất.


Malcolm Cook là nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện nghiên Cứu ISEAS-Yusof Ishak, Singapore. Bài viết được đăng trên Knowledge Wharton, Đại học Pennsylvania, Mỹ.
Trần Quang (gt)

Đã đến lúc Mỹ mạnh tay với vấn đề đầu tư Trung Quốc?

Về kinh tế và nhất là trong đầu tư, những số liệu cụ thể cho thấy rằng, Trung Quốc cần Mỹ hơn rất nhiều so với Mỹ cần Trung Quốc. Với việc Trung Quốc có những hành động không mấy “thân thiện” với các nhà đầu tư Mỹ, đã đến lúc Mỹ cần thay đổi và mạnh tay hơn với Trung Quốc.
Hàng năm, Phòng Thương mại Mỹ ở Trung Quốc thực hiện một cuộc khảo sát tâm lý kinh doanh của các doanh nghiệp nước mình, và năm nay có gần 500 doanh nghiệp phản hồi. Ba trên bốn doanh nghiệp báo cáo rằng họ cảm thấy ít được chào đón hơn ở Trung Quốc so với hai thập kỷ trước đây. Những kết quả trên phản ánh một thực tế là các doanh nghiệp và nhà đầu tư Mỹ ngày càng phải đối mặt với một môi trường kinh doanh khó khăn và không thân thiện ở Trung Quốc. Vụ tranh chấp bản quyền giữa Apple và một công ty Trung Quốc và tuyên bố của Uber rằng công ty này sẽ bán chi nhánh của mình ở Trung Quốc cho Didi Chuxing, một đối thủ bản địa, là những ví dụ mới đây phản ánh xu thế trên. 
Chẳng ai nghi ngờ việc nước Mỹ và doanh nghiệp Mỹ có lợi ích to lớn trong duy trì mối quan hệ tốt đẹp về kinh tế, chính trị với Trung Quốc. Nhưng một thực tế đáng chú ý khác là những vấn đề đặc biệt mà các công ty Mỹ phải đối mặt ở đó. Đó là hàng loạt vấn đề từ những quy định không rõ ràng và thiếu nhất quán đến những lệnh cấm hoàn toàn đối với đầu tư nước ngoài ở những lĩnh vực như thực phẩm và truyền thông. Thách thức ở đây là việc làm thế nào để mang lại sự công bằng hơn cho hai thực tế nêu trên, điều đó có nghĩa là thực thi một chính sách của Mỹ với mục tiêu đạt được nguyên tắc có đi có lại về đầu tư với Trung Quốc, thậm chí là nó bị hạn chế trong vài năm qua và với những ngoại lệ mà hai bên thống nhất đối với các dự án đầu tư ở các lĩnh vực thực sự quan trọng đối với an ninh quốc gia. 
Chính sách đó phải được dựa trên hai nguyên tắc. Thứ nhất là khẳng định lại rằng, về kinh tế và nhất là trong đầu tư, Trung Quốc cần Mỹ hơn rất nhiều so với Mỹ cần Trung Quốc. Thứ hai là phải công nhận rằng, khi nói đến môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp Mỹ ở Trung Quốc, thật thiếu khả thi nếu tìm kiếm sự đền bù từ Chính phủ Trung Quốc, bởi vì cho đến nay gần như chẳng có ai thành công bằng cách đó. Cách tốt nhất để vươn tới Bắc Kinh là thông qua hàng nghìn cá nhân và nhóm doanh nhân Trung Quốc có lợi ích ngày càng lớn trong việc duy trì khả năng tiếp cận nền kinh tế Mỹ. Khi những lợi ích của những người trong nước đứng trước nguy cơ hiện hữu, Bắc Kinh sẽ lắng nghe họ rõ ràng hơn rất nhiều so với bất kỳ một đề nghị nào từ Washington. 
Một minh họa điển hình cho những khác biệt trong lĩnh vực đầu tư giữa Mỹ và Trung Quốc là câu chuyện lâu năm đang diễn ra về Hiệp định Đầu tư song phương Mỹ-Trung Quốc (gọi tắt là BIT). Các cuộc đàm phán bắt đầu từ năm 2008 và đến nay đã trải qua 24 vòng. Vấn đề gai góc nhất là điều mà các nhà đàm phán thương mại gọi là “danh sách tiêu cực”: một nhóm lĩnh vực kinh tế được duy trì trong tình trạng đóng cửa với đầu tư nước ngoài ngay cả sau khi hiệp định trên hoàn thành. Nước Mỹ muốn một “danh sách tiêu cực” rất ngắn, trong khi Bắc Kinh tìm cách bảo hộ số lượng lĩnh vực và ngành công nghiệp lớn hơn nhiều. Nhưng những khác biệt giữa Bắc Kinh và Washington còn lớn hơn cả vấn đề chính sách nói trên. Thực ra, những khác biệt đó phản ánh sự mâu thuẫn căn bản giữa Mỹ và Trung Quốc liên quan đến vấn đề đầu tư nước ngoài. Như chuyên gia David Dollar thuộc Viện Brookings đưa ra nhận định với tạp chí “Wall Street Journal” hồi tháng 9 vừa qua: “Trung Quốc là quốc gia ‘đóng’ nhất trong nhóm nước G20 về đầu tư trực tiếp từ nước ngoài”. Tuy nhiên, lập trường của Mỹ, với một vài ngoại lệ, nói chung là hoan nghênh loại đầu tư trên, và Bộ Tài chính Mỹ cũng đã đồng ý với những thứ đã đạt được ở giai đoạn đàm phán ban đầu của BIT. 
Một số tổ chức tại Mỹ cũng có lập trường tương tự trong đó có Ủy ban quốc gia về quan hệ Mỹ-Trung. Báo cáo năm 2016 của Ủy ban này, với tiêu đề “Những người láng giềng mới”, thực sự là một văn bản đáng chú ý bởi nó công khai khuyến khích sự ủng hộ trong giới chính trị và công chúng cho đầu tư từ Trung Quốc vào Mỹ. Báo cáo trên, được sắp xếp bởi hội đồng bầu cử nghị viện, tạo được sự chú ý đối với vấn đề việc làm và khoản thu từ thuế mà đầu tư Trung Quốc mang đến mỗi địa phương. (Một ví dụ hay xuất hiện khi ông Donald Trump chuẩn bị chỉ định Thống đốc bang Indiana, Mike Pence, làm người đồng tranh cử với mình. Financial Times, cũng dẫn cùng nguồn với báo cáo của ủy ban trên, cho rằng “Doanh nghiệp Trung Quốc thuê người dân Idiana ở các nơi thuộc 9 đơn vị bầu cử của bang này”). Thậm chí ở New Hamshire, một địa phương mà người ta ít khi nghĩ đến với tư cách là một nơi nhận được nhiều đầu tư nước ngoài, thì báo cáo trên cũng được quan tâm. Bang này cho biết, có hai công ty “chiếm đa số” khối lượng đầu tư Trung Quốc ở bang và rằng hai công ty đó vừa mới thuê hơn 300 người.” Và đáng chú ý, báo cáo trên cho biết Dự án Segway do New Hamshire đầu tư đã được bán lại cho một nhà đầu tư Trung Quốc một năm trước đây. 
Tất nhiên, những khoản đầu tư như vậy là rất nhỏ nếu so sánh với các thương vụ tỷ đô của Trung Quốc ở California, New York, và Texas. Thương vụ bán Khách sạn Waldorf Astonia ở New York trị giá 1,95 tỷ USD cho các nhà đầu tư Trung Quốc nhận được sự quan tâm đặc biệt trên truyền thông Mỹ. Tuy nhiên, tất cả những bản báo cáo như vậy về đầu tư Trung Quốc chỉ phản ánh những dòng đầu tư hiện hành và mới đây, tương đối khác với tổng lượng đầu tư nước ngoài trực tiếp của Trung Quốc vào Mỹ. 
Những nguồn đầu tư trên bé nhỏ một cách đáng ngạc nhiên. Hết năm 2014, cơ sở dữ liệu từ Phòng Phân tích kinh tế của Bộ Thương mại Mỹ chỉ ra rằng tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Mỹ là 2.900 tỷ USD, và 80% trong số đó (tương đương với 2.300 tỷ) là đến từ 8 quốc gia và trong số đó không có tên Trung Quốc. Thay vào đó, 4 nguồn cung cấp đầu tư nước ngoài lớn nhất ở Mỹ là Vương quốc Anh, Nhật Bản, Hà Lan và Canada (lần lượt là 450 tỷ, 373 tỷ, 305 tỷ và 261 tỷ USD). Chỉ riêng 4 quốc gia trên đã chiếm gần 1.400 tỷ trong tổng lượng đầu tư nước ngoài 2.900 tỷ của Mỹ trong năm 2014, và 4 nước khác ở châu Âu (Luxembourg, Đức, Thụy Sỹ và Pháp) theo sát phía sau, mỗi nước với một lượng đầu tư trong khoảng 224 đến 243 tỷ USD. 
Mỗi nước trong số 8 quốc gia trên có một lượng đầu tư cao nhất của Mỹ được tính bằng hàng trăm tỷ USD, trong khi đó các khoản đầu tư được báo cáo cho Trung Quốc cao nhất chỉ được tính bằng chục tỷ USD. Tất nhiên, trong năm 2015, số liệu của Bộ Thương mại Mỹ chỉ ra, đầu tư Trung Quốc ở Mỹ chỉ vừa đạt mức đầu tư của Singapore, một đất nước với 6 triệu người. 
Do sự chú ý của công chúng thường được dành cho đầu tư Trung Quốc ở Mỹ, những con số tương đối nhỏ bé này có vẻ đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, những khoản đầu tư trên được che giấu trong hình ảnh dễ nhận biết của các con số chính thức của Mỹ. Một số nguồn đã cung cấp các con số ước tính lớn hơn, một số trong đó phản ánh hoạt động đầu tư gần đây nhất của Bắc Kinh. Ví dụ, trong khi số liệu chính thức của Mỹ năm 2014 chỉ ra rằng tổng lượng đầu tư vào Mỹ của Trung Quốc ít hơn 10 tỷ USD, Bộ Thương mại Trung Quốc báo cáo con số 38 tỷ USD cho năm đó và 46,6 tỷ USD cho năm 2015. Tập đoàn Rhodium, một công ty tư vấn Mỹ, cung cấp một con số còn lớn hơn, 63 tỷ USD cho năm 2015. Nhưng bản chất cuối cùng của vấn đề không thay đổi: tổng lượng đầu tư Trung Quốc ở Mỹ thấp hơn rất nhiều so với của 8 quốc gia đứng đầu. 
Điều đó có nghĩa là tầm quan trọng của đầu tư Trung Quốc đối với Mỹ là tương đối nhỏ. Tất nhiên là nó có giá trị, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp liên quan, nhưng không giống với các nước mà đầu tư từ bên ngoài vào được nhiều người coi như là quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia, đó không phải là trường hợp của nước Mỹ. Quan hệ đầu tư Trung Quốc đối với Mỹ gợi lại câu chuyện ngụ ngôn của Aesop về con ruồi đậu trên sừng một con bò: khi con ruồi tuyên bố là nó sẽ chuẩn bị rời đi, con bò trả lời rằng nó đã không hề biết việc con ruồi đến và sẽ không biết khi nào con ruồi đó bay đi. 
Mỹ nên lựa chọn một chính sách thận trọng tương tự như vậy đối với những đề nghị đầu tư từ Trung Quốc. Một lý do là để nói với các nhà đầu tư Trung Quốc rằng kinh doanh như thường lệ sẽ không còn áp dụng đối với thị trường đầu tư nước ngoài ở Mỹ. Một lý do khác là liệu một khoản đầu tư sẽ là tư nhân hay của nhà nước; khoản đầu tư đó có đe dọa cạnh tranh ở thị trường mà nó sẽ ảnh hưởng hay không; và liệu nó có xâm phạm an ninh quốc gia của Mỹ hay không, bằng việc tác động đến cấu trúc sống còn của quốc gia, nguồn cung các nguyên liệu thiết yếu, hoặc bằng việc khoản đầu tư được đề nghị đó liên quan đến những công nghệ gốc quan trọng ở Mỹ, như microchip, và những máy công cụ hiện đại. 
Một vài trong số những vấn đề trên, nhất là những vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia và những nghi vấn về sở hữu nhà nước hay tư nhân của các khoản đầu tư được đưa ra, đã được nêu lên trong mối liên hệ với các khoản đầu tư Trung Quốc ở Đức và Anh cũng như mới đây nhất là ở Úc. Ở Anh, vấn đề là việc xây dựng nhà máy năng lượng hạt nhân Hinkley Point, trong đó Trung Quốc là nguồn cung cấp tài chính chủ yếu. Khía cạnh trên làm dấy lên quan ngại trong giới an ninh của Anh. Trong khi đó ở Đức, một số đề nghị bán cho các nhà đầu tư Trung Quốc đã gieo hồi chuông cảnh tỉnh cho Berlin. Vụ việc khởi đầu là việc dự kiến bán công ty robot lớn của Đức Kuka cho một nhà đầu tư Trung Quốc, một thương vụ mà Thủ tướng Đức Angela Merkel ban đầu hết sức phản đối. Những quan ngại của bà Merkel tập trung vào hai vấn đề: một là tác động đến nền kinh tế Đức nếu vị thế gần như duy nhất trong phát triển robot của nước này bị bán mất cho nước ngoài; vấn đề khác là sự thất bại của Trung Quốc trong việc tạo ra sự đối xử công bằng, có đi có lại cho các khoản đầu tư của Đức ở Trung Quốc. Tất nhiên, khi bà Merkel đến thăm Bắc Kinh vào hồi tháng 6 vừa qua, bà đã yêu cầu giới chức trách sở tại cho các công ty nước ngoài các quyền và đặc cách như những doanh nghiệp nội địa. 
Tuy nhiên, ở cả Đức và Anh, những mối quan ngại trên đã không thể ngăn chặn các thương vụ đó. Ở Anh, Thủ tướng Theresa May đồng ý một cách bất đắc dĩ với dự án Hinkley Point, mặc dù bà bổ sung các bước đi liên quan đến an ninh để gắn vai trò giám sát của chính phủ mà có thể áp dụng đối với những lời đề nghị đầu tư tương tự trong tương lai, cùng với những đảm bảo mới rằng Anh vẫn mở cửa đối với đầu tư nước ngoài. Tình hình tương tự cũng diễn ra ở Đức: Tháng 8/2016, sau nhiều tháng trì hoãn, thương vụ bán Kuka với giá 5 tỷ USD đã bất đắc dĩ được thông qua, mặc dù Phó Thủ tướng Sigmar Gabriel tiếp tục tranh cãi rằng vấn đề với thương vụ trên không phải là chủ nghĩa bảo hộ như một số người nói, mà thay vào đó xuất phát từ việc Đức khăng khăng muốn có các sân chơi công bằng. 
Mục tiêu trên vẫn là một mối quan ngại của Đức. Cuối tháng 10 vừa qua, quyết định của Berlin rút lại sự ủng hộ cho thương vụ bán công ty microchip Aixtron trị giá 736 triệu USD cho một quỹ đầu tư Trung Quốc đã chỉ ra một sự thay đổi quan trọng trong tư duy của người Đức đối với sự việc đó. Điều này cũng khuyến khích những hy vọng trong Liên minh châu Âu (EU) cho một thỏa thuận đầu tư song phương với Trung Quốc – một hiệp định mà theo cả Thủ tướng Merkel và Phó Thủ tướng Gabriel đang hướng tới là để cân bằng môi trường đầu tư. Trong khi đó ở Úc, Canberra đã đình chỉ thương vụ bán một mạng lưới điện rộng lớn cho Trung Quốc, và các nghị sỹ quốc hội nước này được sự ủng hộ của một nhóm kinh doanh giàu có, quyết liệt phản đối thương vụ bán cho một công ty Trung Quốc một trang trại gia súc có diện tích bằng nước Cộng hòa Ireland. Tuy nhiên, sau một nỗ lực kéo dài gần hai năm, vào cuối tháng 10 vừa qua, họ đã “chào thua” trước lời đề nghị lớn hơn bởi chính các nhà đầu tư Trung Quốc. 
Không giống như các nước trên, ở Mỹ, Ủy ban đa thành viên về Đầu tư nước ngoài của Bộ Tài chính có quyền đình chỉ bất kỳ một dự án đầu tư tiềm năng nào mà cơ quan này cho rằng không phù hợp với những yêu cầu về an ninh quốc gia Mỹ. Chính thức thì cơ quan này ít khi làm như vậy, nhưng mới đây, có nhiều dấu hiệu cho thấy các khoản đầu tư Trung Quốc ở Mỹ đang thu hút sự chú ý mới. Ví dụ, Thượng nghị sỹ Chuck Grassley đã đề nghị rằng Bộ Nông nghiệp Mỹ cần được bổ sung vào Ủy ban về Đầu tư nước ngoài, cụ thể là bởi vì những hệ quả tiềm tàng của các khoản đầu tư nước ngoài đối với nguồn cung nông nghiệp và thực phẩm của nước này. 
Tóm lại, những đánh giá này cung cấp một nền tảng rộng lớn để truyền tải một cách mạnh mẽ tới lãnh đạo Trung Quốc rằng, việc đảm bảo cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư được chính phủ Mỹ đối xử công bằng hơn nhiều so với Bắc Kinh đã đảm bảo cho họ. Sức ảnh hưởng của Mỹ ở trong cuộc đàm phán đó sẽ được tăng cường bằng những điều nhắc nhở Bắc Kinh rằng nước này ít phụ thuộc hơn nhiều vào đầu tư Trung Quốc so với nhiều người nghĩ và chứng cứ không thể chối cãi được rằng các nhà đầu tư Trung Quốc ngày càng cần và muốn đầu tư ở Mỹ. Đối xử công bằng và có đi có lại đã trở thành trung tâm của chính sách kinh tế và thương mại của Mỹ kể từ thời Chính quyền Tổng thống Roosevelt áp dụng thành quả quan trọng của Ngoại trưởng Cordell Hull đó là Đạo luật Hiệp định thương mại bình đẳng năm 1934. Và hiện là thời điểm chín muồi để làm mới lại di sản đó.
Bernard K. Gordon là Giáo sư danh dự về Khoa học Chính trị tại trường Đại học New Hampshire và là tác giả cuốn “America’s Trade Follies”. Bài viết được đăng trên Foreign Affairs.
Trần Quang (gt)

Quốc gia nào sẽ thay thế Trung Quốc trở thành “công xưởng” của thế giới?

Các quốc gia như Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam đều có những đặc điểm để thay thế Trung Quốc, trong đó Ấn Độ là nước đang chiếm ưu thế nhất. Tuy nhiên, điều này chưa phải là cơ sở đầy đủ để cho rằng các quốc gia khác sẽ không thể trở thành một "Trung Quốc mới". 

Chi phí sản xuất thấp đã đóng vai trò lớn đưa Trung Quốc trở thành nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới vào năm 2010, trước đó năm 1980 kinh tế Trung Quốc xếp vị trí thứ 9. Hiện tại Trung Quốc đang nhanh chóng chuyển đổi từ nền sản xuất với công nghệ trung bình thành nền sản xuất với công nghệ cao, cùng chi phí lao động tăng. 
Michelle Rodriguez Drew, đồng tác giả báo cáo về chỉ số năng lực cạnh tranh sản xuất toàn cầu của Deloitte năm 2016 cho biết: “Một thập kỷ trước, Trung Quốc còn không có mặt trong bản đồ công nghệ thế giới. Nhưng hiện tại họ có các máy tính nhanh nhất thế giới, thậm chí đánh bại các phòng thí nghiệm quốc gia của Mỹ”. 
Quá trình chuyển đổi của Trung Quốc đang mở ra không gian cho các nước khác hướng tới nền sản xuất chi phí thấp, lĩnh vực mà Trung Quốc đang chi phối. Deloitte dự đoán rằng nền kinh tế của Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam gọi tắt là MITI-V, sẽ thay thế Trung Quốc để trở thành “công xưởng” của thế giới. Nhiều chuyên gia được phỏng vấn cho rằng Ấn Độ sẽ là trung tâm hàng đầu tiếp theo cho nền sản xuất chi phí thấp. 
Trung Quốc, Mỹ và Đức hiện đang nằm trong nhóm 15 quốc gia có ngành sản xuất cạnh tranh mang tính toàn cầu. Tuy nhiên, trong 5 năm tới, theo một cuộc khảo sát đối với các CEO trong lĩnh vực công nghiệp được Deloitte thực hiện, MITI-V sẽ gia nhập nhóm 15 nước có ngành sản xuất cạnh tranh hàng đầu. Những nước này chính là "Trung Quốc mới" - nền kinh tế có chi phí sản xuất thấp (chi phí lao động thấp trong các ngành sản xuất như dệt may, đồ chơi và thiết bị điện tử tiêu dùng cơ bản). 
Chi phí lao động tăng nhanh tại Trung Quốc 
Sản xuất hàng hóa ở Trung Quốc hiện nay có mức chi phí rẻ hơn Mỹ chỉ khoảng 4%, nguyên nhân chủ yếu do chi phí nhân công của nước này đã tăng tới 80% kể từ năm 2010. Ứng phó với tình trạng trên, Chính phủ Trung Quốc đang hỗ trợ hàng tỷ USD để chuyển nền sản xuất giá trị trung bình sang nền sản xuất giá trị cao hơn. 
Tiến sĩ Jing Bing Zhang, giám đốc nghiên cứu của IDC Robotics toàn cầu cũng đồng tình với quan điểm của Drew Rodriguez về sức mạnh của Trung Quốc trong lĩnh vực sản xuất tiên tiến: “Trung Quốc rất cạnh tranh trong lĩnh vực này. Họ có thể sản xuất các sản phẩm rất phức tạp. Họ có kỹ năng và có thể duy trì sản phẩm có chất lượng tốt. Điện thoại thông minh, chất bán dẫn, robot, thiết bị sản xuất tiên tiến... họ thậm chí tham gia cả lĩnh vực hàng không”. ông Zhang cho biết thêm, khi giá trị sản xuất của Trung Quốc cao lên, tiền lương lao động tăng, sản xuất chi phí thấp đang chuyển dần từ nước này sang các nước khác. 
Zhang nói: “Đây là điều đã xảy ra trong vài năm qua và không có gì mới. Đặc biệt, sản xuất giày và quần áo đã được chuyển sang Việt Nam, Indonesia và cả Bangladesh. Trung Quốc thực sự đang tập trung nâng cấp ngành công nghiệp từ công nghệ trung bình lên công nghệ cao”. 
Trong MITI-V, nước nào mạnh nhất? 
Chuyên gia trong lĩnh vực sản xuất đã chỉ ra các yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh cạnh tranh trong nền sản xuất chi phí thấp: dân số trẻ, chi phí lao động thấp, môi trường chính sách thuận lợi, cơ sở hạ tầng chất lượng tốt, có nguồn lao động kỹ sư, mức lương tối thiểu được người lao động chấp nhận, kinh tế có tăng trưởng và một thị trường tiêu dùng lớn.
Mỗi một nền kinh tế khác nhau đều có những ưu và nhược điểm riêng; tuy nhiên ông Zhang cho rằng “người hàng xóm khổng lồ của Trung Quốc ở phía Tây là Ấn Độ có nhiều tiềm năng nhất để trở thành trung tâm tiếp theo cho nền sản xuất chi phí thấp”. Ông Zhang cũng nhận định Ấn Độ sẽ trở thành trung tâm lắp ráp thiết bị điện tử tiếp theo sau Trung Quốc. Hãng điện tử khổng lồ của Trung Quốc là Huawei tháng 9/2016 đã tuyên bố có thể sản xuất 3 triệu chiếc điện thoại thông minh một năm tại Ấn Độ, còn Foxconn - đối tác của Apple - cũng đang xây dựng nhà máy lắp rắp điện thoại iPhone trị giá 10 tỷ USD tại Ấn Độ. 
Đặc biệt, điểm mạnh của Ấn Độ là có nguồn lao động trình độ hỗn hợp, vừa có lao động trình độ cao, vừa có lao động phổ thông; đồng thời nước này cũng là một thị trường tiêu dùng tiềm năng với dân số 1,2 tỷ người. Mặc dù phần lớn dân số là người nghèo, tuy nhiên thu nhập của người dân Ấn Độ đang tăng lên. Zhang cho biết: “Ấn Độ có một lượng lớn sinh viên tốt nghiệp đại học. Điều này rất quan trọng. Bạn yêu cầu kỹ sư sản xuất; bạn cần kỹ sư thiết kế; bạn cũng cần giám sát viên. Và Ấn Độ có một lượng lớn sinh viên tốt nghiệp được giáo dục bài bản. Đây là lợi thế so sánh nổi trội so với các quốc gia khác trong MITI-V”. 
Môi trường đầu tư sản xuất của Ấn Độ cũng đang nhận được nhiều chính sách hỗ trợ. Chính phủ Ấn Độ năm 2014 đã phát động chiến dịch "chế tạo tại Ấn Độ", nhằm mục đích thúc đẩy sản xuất trong nước. Chiến dịch trên của Chính phủ Ấn Độ đã đạt được một số thành công: Năm 2015, nước này đã vượt qua Trung Quốc để trở thành quốc gia nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều nhất trên thế giới. 
Mặc dù có rất nhiều mặt tích cực song Ấn Độ cũng đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức. Để có một cơ sở sản xuất phát triển, người lao động ít nhất cũng phải biết đọc và viết nhằm vận hành máy móc. Đây là điểm yếu của Ấn Độ khi nước này đứng thứ 105 thế giới về tỷ lệ biết chữ. Theo số liệu thống kê trong báo cáo phát triển con người năm 2016 của Liên hợp quốc, Ấn Độ có tỷ lệ người biết chữ thấp nhất trong các quốc gia MITI-V. Cơ sở hạ tầng của nước này cũng có nhiều hạn chế như: trong lĩnh vực giao thông và cung cấp năng lượng. Đây là những lĩnh vực Ấn Độ bị xếp hạng thấp nhất trong số các nền kinh tế mới nổi. Hiệu quả hoạt động của chính phủ cũng là một trở ngại, sự chậm trễ trong việc thu hồi đất và vấn đề môi trường đã làm đình trệ 270 dự án tại Ấn Độ trong năm qua. 
Tuy nhiên, với một thị trường khổng lồ, cùng với chi phí sản xuất thấp và lời mời gọi từ chính phủ, Ấn Độ là sự lựa chọn số 1 của các nhà đầu tư đang lên kế hoạch sản xuất lớn.
Theo ông Drew Rodriguez, có những dấu hiệu để Ấn Độ chiếm ưu thế lớn như “tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp, hỗ trợ của chính phủ và môi trường đầu tư đang dần cải thiện"; từ đây có thể khẳng định Ấn Độ sẽ trở thành trung tâm sản xuất với chi phí thấp sắp tới. 
Một kỹ sư cao cấp của BSH Hausgeräte GmbH - nhà sản xuất đồ gia dụng lớn nhất ở châu Âu đồng thời cũng là một nhà đầu tư lớn tại châu Á, đã có kinh nghiệm đầu tư tại Trung Quốc - cho biết: “Ấn Độ sẽ là trung tâm sản xuất của thế giới trong tương lai. Dù hạ tầng cơ sở tại quốc gia này không phải quá tốt song họ có rất nhiều người”. Tuy nhiên, ông nhận thấy các công ty Trung Quốc cũng đang chuyển dịch sang Việt Nam, nơi có môi trường chính trị rất ổn định. Có thể thấy các nước Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam đều có những lợi thế riêng và những nước này cũng có một số điểm mạnh như Ấn Độ. 
"Không có rủi ro” là bình luận của tiến sĩ Carlo Bonura thuộc Đại học Oxford khi đề cập đến các quốc gia Đông Nam Á thuộc MITI-V. Ông Bonura cho rằng có rất ít rủi ro như bị tước quyền sở hữu tài sản hoặc rủi ro trong lao động. Theo ông "Đông Nam Á là khu vực mà tất cả các thể chế nhà nước dù dân chủ hay độc đoán đều có một nhận thức chung rằng bất ổn và cô lập về chính trị sẽ ảnh hưởng tới sự ổn định kinh tế". Điều này trái ngược với Ấn Độ, trước khi Thủ tướng hiện tại Narendra Modi nắm quyền, Ấn Độ được biết đến là nước không chào đòn các nhà đầu tư nước ngoài. 
Cả Bonura và Zhang đều cho rằng Thái Lan và Malaysia đang tập trung vào nền sản xuất với công nghệ cao và trung bình hơn là nền sản xuất với chi phí thấp. Thái Lan đã là một quốc gia mạnh về sản xuất ô tô, điện tử, thực phẩm và công nghiệp hóa chất, trong khi Malaysia cũng là quốc gia có thế mạnh đối với ngành công nghiệp hóa chất, máy móc thiết bị và công nghiệp chế biến cao su. Chính những thế mạnh trên đã đem lại sự thịnh vượng cho Malaysia và Thái Lan để trở thành các nước có nền kinh tế đứng đầu trong MITI-V.
Đối với Indonesia và Việt Nam, kỹ sư cao cấp của BSH Hausgeräte GmbH cho biết đã nghe thông tin từ rất nhiều công ty rằng họ đang dịch chuyển sang Việt Nam, nước có chi phí nhân công chỉ bằng một nửa Trung Quốc, cùng môi trường chính trị ổn định. Việt Nam cũng có cơ sở hạ tầng tốt hơn so với Indonesia và lợi thế gần Trung Quốc. 
Ông Bonura cho biết vấn đề đối với Indonesia là năng lực quản lý nhà nước để thực hiện các chiến lược công nghiệp; quốc gia này bị phân tán và đang đối mặt với vấn đề lớn về cơ sở hạ tầng. Trong khi đó, Việt Nam không gặp phải các thách thức này; tuy nhiên so với Indonesia, Việt Nam là quốc gia nhỏ hơn với dân số khoảng 95 triệu người, so với 255 triệu người của Indonesia. Vì vậy xét về góc độ thị trường tiêu dùng, Việt Nam rất nhỏ so với Indonesia; tuy nhiên, đối với khía cạnh này không một nước nào so được với Ấn Độ. 
Sự nổi lên của công nghệ robot 
Rõ ràng Ấn Độ là sự chọn lựa số 1 trong các nước MITI-V để trở thành nền sản xuất chi phí thấp hàng đầu thế giới. Báo cáo của Deloite đánh giá Ấn Độ đang là nước có ngành sản xuất cạnh tranh đứng thứ 11 thế giới, nước này đã lọt vào nhóm 15 nước hàng đầu thế giới về sản xuất cạnh tranh sớm hơn tất cả các quốc gia khác thuộc MITI-V. 
Tuy nhiên, có một điều đe dọa đối với tất cả các nước MITI-V về một nền sản xuất với chi phí thấp, đó chính là công nghệ robot. Với việc robot ngày càng tinh vi hơn, các nhà phân tích dự báo công nghệ này sẽ thay thế lao động con người trong tương lai. “Sự nổi lên của robot” – một trong những cuốn sách bán chạy nhất năm 2016 của Martin Ford – đã vẽ ra bức tranh u ám trong lĩnh vực việc làm khi robot có thể làm một lượng lớn lao động thất nghiệp, và tự động hóa sẽ thay thế nền sản xuất chi phí thấp. Các nhà bình luận và hoạch định chính sách của Ấn Độ dường như cũng đang lo lắng cho quả bom việc làm ở nước này, từ kinh nghiệm của Trung Quốc trong suốt giai đoạn tăng trưởng nóng. 
Họ có thể đã quá lo lắng? Cả Zhang và Rodriguez đều nghĩ vậy, họ cho rằng trong 15 năm đến 20 năm tới, con người vẫn chiếm phần lớn trong nền sản xuất. Hai ông đã chỉ ra số liệu thống kê năm 2014, tỷ lệ robot trong các ngành sản xuất vẫn rất thấp, số liệu chung trên toàn cầu chỉ khoảng 66 robot trên 10.000 nhân viên, trong đó ở Trung Quốc là 36, ở Thái Lan là 57 và ở Ấn Độ gần như bằng 0. 
Một rào cản nữa khiến MITI-V khó trở thành nền sản xuất thay thế Trung Quốc chính là chủ nghĩa bảo hộ, sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đưa ra cảnh báo đối với các công ty có xu hướng dịch chuyển sản xuất khỏi Mỹ và tăng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa Trung Quốc. Tuy nhiên, những điều trên sẽ không làm giảm triển vọng trở thành trung tâm sản xuất của thế giới đối với các nước MITI-V, bởi thế giới đang ngày càng kết nối chặt chẽ hơn. 
Tất cả các nước MITI-V đều có những ưu điểm riêng, tuy nhiên với một thị trường lớn và nguồn lao động khổng lồ cùng chi phí thấp, Ấn Độ là nước đang chiếm ưu thế nhất. Tuy nhiên, điều này chưa phải là cơ sở đầy đủ để cho rằng các nước MITI-V khác sẽ không thể trở thành một "Trung Quốc mới". Bất chấp mối đe dọa từ ngành công nghiệp robot hay chủ nghĩa bảo hộ, các nước MITI-V đều có khả năng cạnh tranh để trở thành nền sản xuất chi phí thấp thay thế Trung Quốc.
Matthia Lomas là nhà tư vấn về Châu Á và Trung Đông. Bài viết được đăng trên The Diplomat.
Văn Cường (gt) 

Wednesday, November 30, 2016

Quan hệ Trung Quốc- châu Phi: Cứu cánh chiến lược của nhau

(Toquoc)-Châu Phi trở thành thị trường buôn bán và đầu tư qua trọng hàng đầu của Trung Quốc phục vụ tái cơ cấu kinh tế trong nước.
Năm 2013, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đề ra là năm châu Phi với phương châm 4 chữ “Chân, thực, thân, thành”.
Tại Hội nghị thượng đỉnh diễn đàn hợp tác Trung Quốc - châu Phi (FOCAC) tổ chức tại Nam Phi kết thúc ngày 5/12, hai bên xác định năm trụ cột và 10 kế hoạch hợp tác lớn để thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược Trung Quốc - châu Phi. Trung Quốc cam kết hỗ trợ 60 tỷ USD cho các quốc gia châu Phi phát triển kinh tế - xã hội. 
Ngày 8/12, Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố văn kiện chính sách đối với châu Phi. Lần công bố đầu tiên là vào năm 2006 sau khi tổ chức Diễn đàn hợp tác Trung Quốc - châu Phi lần thứ nhất tại Bắc Kinh.
Văn kiện lần này đề ra 7 phương hướng và biện pháp thúc đẩy hợp tác toàn diện: (i) Tăng cường tin cậy chính trị, duy trì giao lưu cấp cao mật thiết, tăng cường giao lưu về kinh nghiệm điều hành đất nước, hoàn thiện cơ chế tham vấn và hợp tác. Chính đảng, quân đội, chính quyền địa phương tăng cường giao lưu; (ii) Làm sâu sắc hợp tác trong các vấn đề quốc tế, tăng cường phối hợp trong các cơ chế quốc tế và các vấn đề quốc tế; (iii) Đi sâu hợp tác kinh tế thương mại, hỗ trợ thúc đẩy châu Phi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường hợp tác tài chính tiền tệ, thúc đẩy tiện lợi hóa thương mại và đầu tư, đi sâu hợp tác về năng lượng và nguyên liệu, mở rộng hợp tác kinh tế biển; (iv) Tăng cường hợp tác phát triển, tiếp tục tăng cường viện trợ phát triển: (v) Đi sâu mở rộng giao lưu và hợp tác về văn hóa, thể thao, du lịch, phát thanh truyền hình, giao lưu học thuật và think tank; (vi) Thúc đẩy hòa bình và an ninh châu Phi, làm sâu sắc hợp tác quân sự, ủng hộ châu Phi ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống; (vii) Tăng cường giao lưu hợp tác trong các lĩnh vực lãnh sự, di dân, tư pháp, chấp pháp...
Hai bên thông qua các cơ chế đối thoại bình đẳng như hội nghị cấp bộ trưởng, tham vấn chính trị cấp Ngoại trưởng, cũng như liên hệ với ngoại giao đoàn châu Phi tại Trung Quốc.

Trung Quốc “xoay trục” sang châu Phi

Ông Tập Cận Bình đã thăm châu Phi và dự FOCAC từ ngày 1-5/12/2015. Cả ông Tập Cận Bình và các lãnh đạo châu Phi đều nói về nhau như “những người bạn đáng tin cậy”. Ông Tập Cận Bình mô tả quan hệ của Trung Quốc với Nam Phi như “một người đồng chí và một người anh dem”.
Trung Quốc là đối tác thương mại hàng đầu của châu Phi với khoảng 222 tỷ USD giá trị hàng hóa và dịch vụ trao đổi trong năm 2014. Với mục tiêu trở thành đối tác chiến lược, Bắc Kinh cam kết sẽ tăng thêm đầu tư của nhà nước để giúp phát triển kinh tế ở châu lục này, phần lớn sẽ được dành cho lĩnh vực năng lượng và giao thông. Theo số liệu của Viện Doanh nghiệp Mỹ, trong hơn một thập kỷ qua đã có 29,97 tỷ USD, chiếm 41% tổng vốn đầu tư của Trung Quốc ở châu Phi, được giành cho các dự án năng lượng.
Ước tính quy mô đầu tư của Trung Quốc lên tới 2.500 dự án ở 51 quốc gia thuộc châu Phi với tổng giá trị khoảng 94 tỷ USD.
Nhiều công ty của Trung Quốc đã giành được các hợp đồng béo bở trong lĩnh vực giao thông trị giá hơn 81,1 tỷ USD trong hơn một thập kỷ qua, chiếm 49% tổng giá trị hợp đồng xây dựng của Trung Quốc ở Lục địa Đen. Nam Phi là quốc gia châu Phi nhận được nhiều đầu tư của Trung Quốc nhất với 9,17 tỷ USD, Cộng hòa Dân chủ Congo đứng thứ hai. Tuy nhiên, các quốc gia kém phát triển hơn như Nigeria và Algeria cũng đã ký kết nhiều hợp đồng xây dựng lớn với các công ty Trung Quốc. Cụ thể, Trung Quốc có các dự án trị giá 24,65 tỷ USD ở Nigeria và 18,69 tỷ USD ở Algeria, trong khi giá trị các dự án trong lĩnh vực này ở Nam Phi chỉ ở mức 380 triệu USD.
Ngoài ra, các quốc gia ở châu Phi cũng đã được hưởng lợi lớn từ nguồn viện trợ nước ngoài của Trung Quốc trong những thập niên gần đây.
Tuy nhiên, Trung Quốc ngày nay đang nỗ lực tìm kiếm những người bạn gần gũi hơn và những liên minh ngoại giao trên vũ đài thế giới nhằm thúc đẩy việc khẳng định là một cường quốc chính với mục tiêu thoát khỏi kinh tế đơn thuần và coi châu Phi là một nguồn cung cấp năng lượng và nguyên liệu thô đáng tin cậy.
Để góp phần ổn định tình hình châu Phi, trong bài phát biểu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc hồi tháng 9 vừa qua, ông Tập Cận Bình đã cam kết cử 8.000 binh sĩ tham gia Phái bộ giữ gìn hòa bình và tài trợ 1 tỷ USD để ủng hộ nhiệm vụ giữ gìn hòa bình ở châu Phi. Việc đóng góp vào lực lượng giữ gìn hòa bình ở châu Phi hay gây quỹ phát triển là những cách thức xây dựng chính sách ảnh hưởng và mở rộng sự thừa nhận là một cường quốc lớn mạnh.
Các hãng tin NHK (Nhật Bản), Tin tức Kinh tế (Đức) bình luận: Việc Trung Quốc đưa ra các sáng kiến mới tại Hội nghị, một mặt nhằm làm sâu sắc vai trò của Trung Quốc trong tiến trình phát triển của châu Phi, mặt khác giúp nâng cao vị trí, vai trò của châu Phi trong trật tự quốc tế. Cho dù có những chỉ trích chính sách của Trung Quốc đối với châu Phi là một dạng “chủ nghĩa thực dân mới”, quan hệ giữa Trung Quốc với lục địa này cũng đã đạt đến điểm mạnh nhất. Ở thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay, Trung Quốc đã thành cứu cánh của châu Phi và châu Phi trở thành thị trường quan trọng của nên kinh tế Trung Quốc đang được tái cơ cấu./.
Hoài Nam

Monday, November 7, 2016

FDI CỦA TRUNG QUỐC VÀO CHÂU PHI ĐẾN THÁNG 7 NĂM 2016

China's investment into Africa continues to rise, with a significant increase so far in 2016 on last year's total, reports Simon Curtis.

According to greenfield investment monitor fDi Markets, China-sourced capital expenditure into Africa has experienced a dramatic increase in 2016 from 2015 figures, with five months of data to record and publish remaining. Additionally, the number of investment projects into Africa has increased year on year between January 2013 and July 2016.

Chinese capital investment into Africa up to July 2016 has increased by 515% from full-year 2015 figures. With more than $14bn invested in Africa by Chinese companies so far in 2016, investment levels have already surpassed every year of recorded data available for fDi Markets since 2003. The previous record for investment into Africa from China was in 2008, with just over $9bn invested in this year.

In addition, the number of investment projects into Africa from China is set to surpass any previous year since 2003, with 36 projects recorded from January to July 2016. With 38 projects for the whole of 2012, the number of projects recorded during 2016 is certain to reach a new high.

Despite a year-on-year decrease in capital expenditure invested in Africa from China between 2014 and 2015, the number of projects, jobs created and companies investing has increased each year into Africa between January 2013 and July 2016. During this period, the number of projects recorded has increased by 112%, the number of jobs created has increased by 413% and the number of companies investing has more than doubled by 108%. 

Challenge the misperception that Chinese Overseas Direct Investment (ODI) is dominant in Africa.

A 2015 research paper by David Dollar of Brookings Institute, Tang Heiwai of Johns Hopkins University and IMF economist Chen Wenjie, challenge the misperception that Chinese Overseas Direct Investment (ODI) is dominant in Africa. Although growing rapidly, PRC investment levels on the continent are relatively small compared to Europe and the U.S. Also important: Chinese investments are more diversified than most people realize, extending far beyond the extractive industries.

  China has emerged as Africa’s largest trading partner, providing demand for the continent’s energy and minerals.  At the same time there is a growing volume of Chinese direct investment in Africa.  Some of this has taken the form of high-profile natural resource deals in countries with poor track records of governance (Angola, Sudan).  These developments have given rise to a number of ideas about Chinese investment in Africa: that it is on the same enormous scale as China’s trade; that it is aimed primarily at natural resources; and that it is concentrated in countries with poor governance.  In reality, each of these ideas is to a large extent a myth not backed up by data.

First, on the scale of China’s direct investment in Africa.  Chinese statistics on what they call “Overseas Direct Investment” show a stock of $26 billion in Africa as of end-2013; that would amount to about 3% of total FDI on the continent.  UNCTAD’s World Investment Report 2015 similarly finds that the flow of Chinese FDI to Africa during 2013-2014 was 4.4% of the total.  The European Union countries, led by France and U.K., are the overwhelmingly largest investors in Africa.  The U.S. is also significant, and even South Africa invests more on the continent than China does.

Second, concerning natural resources, my recent paper, “Why is China investing in Africa? Evidence from the firm level,” written with Wenjie Chen and Heiwai Tang,  examines the allocation across African countries of the stock of Chinese ODI and the stock of total FDI (which, as noted, mostly comes from Western countries).  Other things equal, African countries that are more resource rich attract more Chinese investment.  But this effect is about the same for Western investment, and it is only one factor determining investment.  Chinese ODI is also influenced by the size of the domestic market, indicating that some of it is aimed at serving that market.  

This study goes beyond the aggregate data to work with the firm-level data compiled by China’s Ministry of Commerce (MOFCOM).  All Chinese enterprises making direct investments abroad have to register with MOFCOM.  The resulting database provides the investing company’s location in China and line of business.  It also includes the country to which the investment is flowing, and a description in Chinese of the investment project.  However, it does not include the amount of investment.  The investment to Africa over the period 1998 – 2012 includes about 2000 Chinese firms investing in 49 African countries.  Firms often have multiple projects so there are about 4000 investments in the database.  Think of the typical entry as a private firm that is much smaller than the big state-owned enterprises involved in the mega-deals that have captured so much attention.  These data provide insight into what the Chinese private sector is doing in Africa.  Based on the descriptions of the overseas investment, we categorize the projects into 25 industries covering all sectors of the economy (primary, secondary, and tertiary).  The allocation of the projects across countries and across sectors provides a snapshot of Chinese private investment in Africa.  

Some things immediately jump out from the data.  In terms of sectors, these investments are not concentrated in natural resources; services are the most common sector and there are significant investments in manufacturing as well.  In terms of countries, Chinese investment goes everywhere: in resource rich countries like Nigeria and South Africa, but also in non-resource-rich countries like Ethiopia, Kenya, and Uganda.