Friday, December 26, 2014

3. Ba Hội nghị thượng đỉnh và các giải pháp kinh tế

22:30' 17/12/2014
TCCSĐT - Chỉ trong thời gian một tuần, thế giới đã chứng kiến 3 Hội nghị thượng đỉnh của các tổ chức khu vực và quốc tế được coi là rất quan trọng gồm: APEC 22 (từ ngày 10 đến ngày 11-11) ở Trung Quốc; ASEAN 25 (từ ngày 12 đến ngày 13-11) ở My-an-ma; và G20 (từ ngày 15 đến ngày 16-11) tại Ốt-trây-li-a.

Tăng cường liên kết
Tuy mức độ có sự khác nhau nhưng cả 3 Hội nghị thượng đỉnh đều quan tâm đến tăng cường liên kết sâu hơn giữa các thành viên trong khối, nhóm hoặc khu vực kinh tế. APEC 22 tập trung thảo luận và giải quyết các vấn đề liên quan đến thương mại, đầu tư, đổi mới, tăng trưởng toàn diện; ASEAN lại nhấn mạnh việc thực hiện xây dựng Cộng đồng trên các chỉ tiêu về kết cấu hạ tầng, công nghệ thông tin, quản lý thiên tai, cải thiện hệ thống dịch vụ công, nghiên cứu và phát triển năng lượng mới, thu hẹp khoảng cách phát triển; G20 thì đi sâu đòi hỏi các thành viên phải cải cách tài chính và tái cấu trúc kinh tế, tăng cường đầu tư cho kết cấu hạ tầng, cắt giảm rào cản thương mại, thúc đẩy cạnh tranh, tạo thêm nhiều việc làm, hiện đại hóa hệ thống thuế, phục hồi thị trường năng lượng, củng cố hệ thống trao đổi thương mại toàn cầu và chống tham nhũng…
Trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp, tiềm ẩn nguy cơ tái khủng hoảng, giới chuyên gia nhận định các hội nghị lần này đều có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì APEC sau 25 năm ra đời và giữ vai trò động lực tăng trưởng của thế giới, nhưng hai năm gần đây đã có dấu hiệu chững lại hoặc suy giảm tốc độ tăng trưởng, nhất là các nước thuộc nhóm mới nổi. ASEAN với vai trò trung tâm khu vực lại đang trước ngưỡng cửa của Cộng đồng AEC và G20 với 4 nền kinh tế lớn đang có dấu hiệu suy giảm tăng trưởng…
Mặc dù vậy, Hội nghị thượng đỉnh APEC lần này đã thể hiện sự kiên định mục tiêu theo tuyên bố Bô-go, thông qua việc tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại - đầu tư và hợp tác kinh tế kỹ thuật nhằm nâng cao 10% chất lượng chuỗi cung ứng khu vực, cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng rẻ hơn, nhanh hơn và đơn giản hơn 25%, 54 mặt hàng giảm thuế ở mức 5% trở xuống sẽ được thực hiện vào năm 2015.
Về liên kết khu vực ASEAN, các nước đối tác khẳng định ủng hộ ASEAN hiện thực hóa AEC vào năm 2015 và bước vào giai đoạn phát triển cao hơn sau năm 2015, làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác với ASEAN, ủng hộ ASEAN phát huy vai trò trung tâm và tăng cường đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. 
Tìm kiếm cơ chế 
Khu vực Thương mại Tự do châu Á - Thái Bình Dương (FTAAP) là chủ đề được thúc đẩy thảo luận tại APEC 22 và nước chủ nhà Trung Quốc kêu gọi đưa ra cam kết thành lập khu vực này vào năm 2025. Các thành viên APEC tiếp tục coi trọng hợp tác trong khuôn khổ nội khối nên coi FTAAP là một trong những cơ chế không thể thiếu để xây dựng hợp tác khu vực theo hướng đa tầng nấc, duy trì vai trò đầu tàu của các nền kinh tế châu Á - Thái Bình Dương.
Tại Hội nghị G20, Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma kêu gọi các nước thành viên tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) thúc đẩy đàm phán để sớm ký kết TPP, coi đây là công cụ chính để Mỹ thắt chặt quan hệ với châu Á - Thái Bình Dương. Trong khi một số nước khác vẫn muốn ưu tiên cho cả TPP và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)...
Tại Hội nghị APEC 22, nước chủ nhà Trung Quốc đề xuất hai nội dung quan trọng: Ngân hàng Đầu tư Kết cấu hạ tầng châu Á (AIIB) với nhiệm vụ tài trợ cho kết cấu hạ tầng trong khu vực, và “con đường tơ lụa” trên biển thế kỷ XXI nhằm đẩy mạnh kết nối thương mại nội khối thông qua Biển Đông. Đề xuất thành lập AIIB của Trung Quốc được cho là xuất phát từ nhu cầu cải thiện kết cấu hạ tầng qua đó có thể giúp thu hẹp khoảng cách tài chính trong khu vực. Còn “con đường tơ lụa” trên biển thế kỷ XXI tuy cũng có ý nghĩa mở rộng thương mại khu vực với toàn cầu, nhưng còn ẩn chứa tham vọng hợp pháp hóa quan điểm sai trái về chủ quyền trên biển của họ, khiến nhiều nước quan ngại.
Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 25 cùng các Hội nghị cấp cao giữa ASEAN với Ấn Độ lần thứ 12, với Nhật Bản lần thứ 17 và với Liên hợp quốc lần thứ 8, các bên đều đánh giá cao quan hệ hợp tác và nâng lên Đối tác chiến lược với Ấn Độ, đẩy mạnh thương mại và đầu tư với mục tiêu tăng gấp đôi kim ngạch thương mại vào năm 2022 với Nhật Bản và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan về xây dựng Chương trình nghị sự phát triển của Liên hợp quốc sau 2015 và Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN sau năm 2015.
Hội nghị thượng đỉnh APEC 22 đã thảo luận việc thúc đẩy quan hệ thương mại nhằm tăng cường hội nhập khu vực mạnh mẽ hơn, trong đó đáng chú ý là TPP và RCEP. Theo giới quan sát, tâm điểm của Hội nghị APEC lần này vẫn là các cuộc đàm phán thương mại tự do liên quan đến TPP, nhưng cơ chế này không có Trung Quốc tham gia. Còn Trung Quốc lại muốn thực thi một cơ chế trao đổi thông tin nội bộ nhằm minh bạch và tạo điều kiện cho cả TPP và RCEP.
TPP sẽ tạo lập một khu vực thương mại tự do chiếm tới 57% tổng lượng kinh tế và 46% tổng lượng thương mại, gần 40% GDP toàn cầu và giữ vai trò quan trọng về mặt chính trị trong chính sách “xoay trục” của Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma. Bên lề Hội nghị thượng đỉnh APEC, các quan chức phụ trách việc đàm phán TPP của Nhật và Mỹ sẽ nối lại các cuộc thương thảo để giải quyết hai rào cản còn lại về thuế và thương mại ô tô.
Hiện thực hóa mục tiêu
Khi kết thúc Hội nghị G20, bản kế hoạch hành động Bờ-rít-bát-nơ (Brisbane) đã được thông qua, nhằm giúp các nền kinh tế tăng trưởng thêm 2% trong vòng 5 năm tới. Hai điểm phần trăm nêu trên sẽ tạo thêm khoảng 2.000 tỷ USD với 35 triệu việc làm mới và giúp kinh tế thế giới trở về quỹ đạo tăng trưởng bền vững.
Giải pháp chiến lược cho tăng trưởng được G20 đưa ra là tương đối toàn diện trong đó chống tham nhũng là 1 trong 7 vấn đề quan trọng hàng đầu được Hội nghị coi trọng. Theo tính toán, tham nhũng đang lấy đi của thế giới 5% GDP mỗi năm, tương đương 50% mức phấn đấu của nhóm trong vòng 5 năm tới. Vì thế, chống tham nhũng có tầm quan trọng không kém gì so với thúc đẩy tăng trưởng. Quan chức của Tổ chức minh bạch quốc tế - Bà Mác-giơ Muy-phi (Maggie Murphy) nói: “Trong bản hành động này, họ cam kết tiến hành các biện pháp chống tham nhũng thông qua 6 gói biện pháp”. Trong đó có việc phối hợp với các tổ chức tư nhân để chống tham nhũng trong các lĩnh vực. “Ngoài ra, còn có các biện pháp khác như bảo vệ người tiết lộ tham nhũng hay phòng ngừa các vụ hối lộ của các công ty nước ngoài”.
Chống biến đổi khí hậu, cũng đạt được tiến bộ mới tại G20 lần này với việc Mỹ công bố tài trợ 3 tỷ USD, tiếp sau là Nhật Bản 1,5 tỷ USD cho quỹ khí hậu xanh, mặc dù nước chủ nhà Ốt-trây-li-a không đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự của Hội nghị, nhưng đây cũng là giải pháp tích cực cho sự tăng trưởng bền vững của kinh tế toàn cầu.
Trong nội khối ASEAN và các nước Đối tác cũng đã đề xuất nhiều biện pháp thiết thực trong việc thúc đẩy môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác phát triển ở khu vực, tiếp tục dành nhiều ưu tiên cho các trọng tâm như kinh tế, thương mại, đầu tư, kết nối, thu hẹp khoảng cách phát triển, quản lý thiên tai, hợp tác giáo dục, giao lưu văn hóa…; đồng thời, nhấn mạnh tăng cường phối chặt chẽ trong các ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống như tội phạm xuyên quốc gia, an ninh năng lượng và lương thực, an ninh nguồn nước, phòng, chống dịch bệnh xuyên biên giới, ứng phó với biến đổi khí hậu…
Vẫn còn những ý kiến khác nhau
Giới phân tích đang có những ý kiến khác nhau. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng, con số 2% cho tăng trưởng kinh tế thế giới mà G20 nêu ra là khả thi, chỉ cần các quốc gia thực hiện đúng bản kế hoạch hành động vừa mới thông qua. Nhiều chuyên gia cũng nhận định, đây là một kế hoạch tham vọng nhưng không phải không thực hiện được. Thời điểm này, nhiều liên minh kinh tế đang hình thành, trong đó phải kể đến TPP, RCEP các hiệp định thương mại tự do song phương (FTA)… Điều này giúp thúc đẩy từng nền kinh tế thành viên cũng như giúp các cam kết kinh tế tiến gần nhau hơn.
Thủ tướng Đức, Mắc-ken khẳng định, nước Đức sẽ đi đầu trong việc thực hiện các cam kết, bà nói: “Tôi tin tưởng rằng chúng tôi sẽ gửi được một thông điệp rõ ràng về sự tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu, một thông điệp rõ ràng về việc chúng tôi muốn thúc đẩy sự tăng trưởng đó. Nước Đức sẽ luôn đi đầu trong cải cách và mong muốn thực hiện tốt các chính sách tài chính. Tôi nghĩ rằng đó là điều kiện tiên quyết cho sự tăng trưởng”.
Tuy nhiên, dư luận vẫn còn nhớ, Hội nghị thượng đỉnh hồi đầu năm nay, các lãnh đạo nhóm G20 cũng đã từng cam kết sẽ thúc đẩy GDP nhóm tăng thêm 2 điểm % tính đến năm 2018 - con số nêu trên lần này được nhắc lại, có thể coi là quá tham vọng và không thực tế, ít nhất đối với 4 nền kinh tế là Trung Quốc, Nhật Bản, Đức và Nga trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước này đang suy giảm.
Theo con số thực tế và dự báo của các tổ chức kinh tế quốc tế IMF, WB, OECD… thì tăng trưởng của Trung Quốc - nền kinh tế lớn thứ hai thế giới năm nay chỉ đạt 7,3%/năm, được xem là mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Nhật Bản - nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, cũng chỉ đạt mức tăng trưởng khiêm tốn, thậm chí quý III-2014 còn giảm 1,6% so với cùng kỳ năm ngoái… Đức là nền kinh tế lớn nhất EU trong năm nay cũng chỉ đạt 1,2% so với dự báo trước đó là 1,8%. Còn nền kinh tế Nga được dự báo là sẽ rơi vào suy thoái trong tháng 12 tới, quý II và III năm nay chỉ đạt mức 0,7%. 
Trong các báo cáo của WB và IMF đưa ra trong năm nay thì kinh tế toàn cầu đã phải 3 lần hạ mức tăng trưởng. Trong đó không ít nền kinh tế thuộc nhóm G20 có mức độ tăng trưởng không đáng kể, thậm chí có nền kinh tế còn về 0% vào năm 2015. Đây sẽ là điều tác động không nhỏ tới sự tăng trưởng chung của nền kinh tế toàn cầu và ảnh hưởng tới những cam kết, vốn đã không mấy chắc chắn của G20. Liên quan đến cuộc khủng hoảng U-crai-na, Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban-ki-mun tại Hội nghị còn cảnh báo về một sự chia rẽ kiểu chiến tranh lạnh và tình hình như hiện nay là đe dọa tới hòa bình cũng như sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Dư luận vẫn chưa quên, G20 đã từng phải đối mặt với chỉ trích là “nói suông” và những chính sách phát triển của G20 chỉ thiên hướng có lợi cho các nước giàu, đã và đang tạo ra một khoảng cách lớn về phát triển. Nên hiệu quả thực sự của các giải pháp để thực hiện mục tiêu mà G20 nêu ra tại Bờ-rít-bát-nơ vẫn còn đang ở phía trước.
Như vậy, tuy các điểm “nóng” về an ninh như: chống IS ở Trung Đông, khủng khoảng chính trị ở U-crai-na, những động thái gây căng thẳng của Trung Quốc ở Biển Đông… tác động không nhỏ đến chương trình nghị sự của các Hội nghị thượng đỉnh, nhưng vấn đề kinh tế khu vực và toàn cầu vẫn được đặc biệt coi trọng với nhiều giải pháp từ đẩy mạnh liên kết thông qua cơ chế hợp tác phát triển cả nội khối và toàn cầu. Mặc dù vẫn còn những ý kiến khác nhau, nhưng giới nghiên cứu, hoạch định chính sách và dư luận vẫn kỳ vọng vào những quyết sách kinh tế mà các Hội nghị thượng đỉnh vừa mới thông qua có thể đẩy nhanh sự phục hồi kinh tế khu vực và toàn cầu trong năm 2015./.
Nguyễn Nhâm

2. Kinh tế Việt Nam qua báo chí nước ngoài

23:37' 28/11/2014
TCCSĐT - Là một trong những quốc gia có nhiều tiềm năng phát triển ở châu Á - Thái Bình Dương, những thành công của nền kinh tế Việt Nam cũng như những thách thức, hạn chế trong phát triển kinh tế mà Việt Nam phải đối mặt được báo chí nước ngoài phân tích, bình luận.

Những thành công 

Báo chí nước ngoài đã phân tích và đưa ra nhận định, bức tranh kinh tế thế giới năm 2014 kém khởi sắc hơn một số năm trước đây, ngay cả khu vực châu Á vốn được coi là đầu tàu tăng trưởng thế giới cũng không giữ được mức tăng trưởng cao như cách đây 5 - 6 năm, trong đó, tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc chỉ đạt xấp xỉ 7% thay vì 10% như truyền thống. Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a cũng không trông đợi các chỉ số tăng trưởng kỷ lục từng đạt được. Trong điều kiện đó, Việt Nam đang thu hút được sự chú ý như một điển hình tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế khi giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định trong suốt thời kỳ khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam với 90 triệu dân đang nằm trong danh sách 10 quốc gia phát triển năng động nhất thế giới.

Một số thành công nổi bật của kinh tế Việt Nam được báo chí nước ngoài tập trung phân tích, đánh giá là:

Kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định và nền kinh tế quốc gia đang trên đà hồi phục. Việt Nam đã chèo lái và giữ ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp và không chắc chắn sau cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu vừa qua. Chính phủ Việt Nam đã áp dụng thành công chính sách ổn định kinh tế vĩ mô và đã đạt được nhiều thành quả đáng chú ý: 

Tăng trưởng kinh tế những năm qua được duy trì ở mức tương đối cao và ổn định với mức 5 - 6% trung bình mỗi năm. GDP năm 2013 tăng 5,42%. Năm 2009, Việt Nam đã vượt qua ngưỡng 1.000 USD thu nhập đầu người để được xếp loại thành “nước có thu nhập trung bình”. Năm 2014, thu nhập tính theo đầu người ở mức 1200 USD/người. Tỷ lệ lạm phát dần bình ổn, giảm từ trên 20% những năm 2010 - 2011 (do áp dụng các biện pháp kích cầu) xuống còn 6% năm 2013. 

Môi trường đầu tư của Việt Nam tiếp tục được cải thiện. Nhờ chính sách kinh tế linh hoạt cũng như ổn định chính trị, Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu về mức độ hấp dẫn đầu tư trong khối ASEAN. Trong những năm qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn ODA vẫn tiếp tục tăng đều. Số dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cấp phép tại Việt Nam tính đến tháng 7-2014 lên tới 17.000 với tổng vốn đăng ký là 240 tỷ USD (vốn FDI chỉ tính riêng trong tháng 9-2014 đã đạt 10 tỷ USD). Việt Nam đã và đang thu hút nhà đầu tư từ hơn 100 nước và vùng lãnh thổ, trong đó 16 nước và vùng lãnh thổ có vốn đăng ký hơn một tỷ USD. Tất cả 63 tỉnh, thành trên cả nước đều có dự án đầu tư FDI, trong đó 27 tỉnh thành có mức vốn đăng ký hơn một tỷ USD. Khu vực FDI hiện đóng góp trên 18% GDP, 46,3% giá trị sản lượng công nghiệp (ở mức giá hiện hành), và 66,2% giá trị xuất khẩu cả nước, tạo hơn 1,7 triệu việc làm.

Cán cân thương mại Việt Nam tiếp tục thặng dư với kim ngạch xuất khẩu năm 2013 đạt 132,2 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu đạt 131,3 tỷ USD. Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam gồm hàng dệt may, linh kiện điện tử, các sản phẩm công nghiệp nhẹ, thủ công, cũng như thủy, nông, lâm sản (gạo, cà-phê, hải sản…). EU là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam sau Trung Quốc. Kim ngạch thương mại giữa hai bên năm 2013 tăng mạnh: xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng từ 18,6 tỷ EUR lên 21,3 tỷ EUR, nhập khẩu từ EU sang Việt Nam tăng từ 5,4 tỷ EUR lên 5,8 tỷ EUR. 

Hiện nay, các đối tác thương mại chủ yếu của Việt Nam là Trung Quốc, Mỹ, Đài Loan, Xin-ga-po, Hàn Quốc, Nhật Bản và các nước Liên minh châu Âu (EU). Nhiều nhà khổng lồ trong lĩnh vực công nghệ cao đã và đang tích cực đưa sản xuất đến Việt Nam vì giá nhân công rẻ và môi trường chính trị ổn định. Mới đây, Phòng Thương mại Mỹ tại Xin-ga-po đánh giá Việt Nam là quốc gia đứng thứ hai về mức độ hấp dẫn đối với các nhà doanh nghiệp Mỹ. Cơ quan này nhấn mạnh môi trường kinh doanh ở Việt Nam được cải thiện rõ rệt sau từng năm, sau khi Việt Nam tiến hành cải cách các lĩnh vực thuế, pháp luật hải quan, thu hút đầu tư nước ngoài và bảo hiểm. Các chuyên gia cho rằng chính những yếu tố này đã nâng cao sự chú ý của các nhà đầu tư quốc tế. 

Trong bản báo cáo gần đây, Moody’s nâng mức xếp hạng trái phiếu không bảo đảm của Việt Nam từ mức B2 lên B1. Tiếp sau đó hãng Fitch Rating tuyên bố dự định nâng chỉ số tín nhiệm của Việt Nam từ mức B+ lên BB+ vì nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi rõ nét và giảm thiểu rủi ro.

Tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Để thúc đẩy phát triển kinh tế, thu hút thêm đầu tư nước ngoài, cũng như giảm phụ thuộc vào các đối tác truyền thống nhưng rủi ro, khó lường, đặc biệt là Trung Quốc, Việt Nam đã thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trở thành thành viên của nhiều tổ chức kinh tế trên thế giới, ví dụ như gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) từ năm 2007. Việc gia nhập WTO được cho là một tín hiệu chính trị, khởi động cho quá trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng là thành viên của các tổ chức, thể chế kinh tế quốc tế, trong đó có Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và Tổ chức Hải quan thế giới (WCO).

Việt Nam cũng đóng vai trò tích cực trong cộng đồng các nước ASEAN, khu vực có dân số 560 triệu người (nhiều hơn nhóm EU-27) với GDP vào khoảng 800 tỷ USD. Việt Nam cùng các nước ASEAN khác đã nhất trí thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực, thành lập một “cộng đồng kinh tế ASEAN” với mục tiêu thị trường chung năm 2015. Ngoài ra, Việt Nam hiện đang đàm phán Hiệp định thương mại tự do với EU (EVFTA) với khả năng kết thúc dự kiến vào cuối năm 2014 hoặc đầu năm 2015. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đàm phán với Mỹ về Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Quá trình đàm phán đang diễn ra tích cực và nhiều khả năng sẽ kết thúc trong thời gian tới.

Những hạn chế, vấn đề đặt ra đối với nền kinh tế cần được giải quyết 

Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là lệ thuộc quá nhiều vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vốn chiếm tới 70% tổng khối lượng xuất khẩu của Việt Nam, trong đó một số doanh nghiệp do gặp khó khăn đã rời khỏi thị trường. Năm 2014 có gần 50 nghìn doanh nghiệp Việt Nam bị phá sản, tăng 13,8% so với năm 2013. 

Thứ hai, cơ cấu nền kinh tế còn lạc hậu, công nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu thiên về gia công, hàm lượng nội địa hóa và giá trị gia tăng thấp. Nông nghiệp mặc dù là chủ lực song vẫn là sản xuất nhỏ lẻ, phân tán và manh mún, năng suất lao động và giá trị gia tăng trong lĩnh vực này không cao so với mặt bằng chung thế giới. Cơ cấu các thành phần kinh tế chưa hợp lý, chưa phát huy được tiềm năng của khu vực tư nhân.

Thứ ba, nợ công tăng mạnh và nợ xấu của hệ thống tài chính - ngân hàng. Để giải quyết vấn đề nợ xấu, Việt Nam đã thành lập Công ty Quản lý tài sản của các Tổ chức Tín dụng Việt Nam (VAMC) chuyên thu gom nợ xấu, tuy nhiên, việc giải quyết còn gặp nhiều khó khăn do thị trường mua bán nợ chưa hiệu quả, nợ công tiếp tục tăng nhanh, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước còn chậm. 

Thứ tư, nhu cầu nội địa yếu, giảm 1,5% so với năm ngoái. Số lượng các doanh nghiệp tuyên bố phá sản rất cao. Chỉ trong 9 tháng đầu năm 2014 đã có gần 50.000 doanh nghiệp giải tán, cao hơn cả số lượng của năm 2013. Khối lượng nợ quá hạn của các chủ thể kinh tế tại Việt Nam còn cao. Tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp có vốn nhà nước diễn ra chậm. Trong 8 tháng đầu năm 2014 mới chỉ cổ phần hóa được 55 doanh nghiệp trong tổng số 432 doanh nghiệp phải cổ phần hóa đến năm 2015.
Thứ năm, vấn đề tham nhũng. Bài Việt Nam đặt mục tiêu kinh tế cho năm 2015 đăng trên Sudestasiatico (Đông Nam Á) - mạng tin độc lập của I-ta-li-a trích dẫn lời của Chánh Thanh tra Chínhphủ, rằng “tham nhũng trong khu vực công vẫn còn nghiêm trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, quản lý đất đai, khai thác tài nguyên thiên nhiên, và đầu tư công”.

Triển vọng

Nhiều bài viết trên báo chí nước ngoài nhận định rằng, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng tốt, và đó là một dấu hiệu tích cực. Các chỉ số kinh tế 9 tháng đầu năm 2014 cho thấy triển vọng tích cực của kinh tế Việt Nam trong năm 2014 và những năm tới. Đến tháng 9-2014, GDP tăng 5,62% so với cùng kỳ năm ngoài, tăng trưởng GDP cho cả năm 2014 dự báo là 5,8%. Tỷ lệ lạm phát 9 tháng đầu năm chỉ ở mức 2,25%, thấp nhất trong 12 năm qua. Dự báo lạm phát cả năm 2014 sẽ ở mức dưới 5%, đạt mục tiêu đề ra.

Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2014 đạt 109,63 tỷ USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Cán cân thương mại dự kiến tiếp tục thặng dư trong năm 2014 với kim ngạch xuất khẩu ước tính đạt 148 tỷ USD (tăng 12,1%) và kim ngạch nhập khẩu đạt 146,5 tỷ USD (tăng 11%). Bên cạnh đó, sản xuất công nghiệp tăng 6,7%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11%. Tốc độ tăng trưởng mạnh trong xuất khẩu và lĩnh vực sản xuất là tín hiệu tích cực cho những dự báo trong năm tới. 

Thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản đang có những dấu hiệu từng bước phục hồi. Trong 9 tháng đầu năm 2014, các chỉ số VN-Index và HNX-Index lần lượt tăng 19,9% và 30,4%, giúp thị trường chứng khoán Việt Nam nằm trong số năm thị trường có mức tăng trưởng mạnh nhất trên thế giới thời gian qua. Giao dịch bất động sản cũng tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái. 

Do các chỉ số kinh tế quan trọng của nền kinh tế Việt Nam khả quan, nên gần như các hãng xếp hạng tín nhiệm lớn của thế giới đều đưa ra dự báo nền kinh tế Việt Nam trong năm 2014 sẽ tăng trưởng từ 5,4-5,6% và ở mức 6-7% trong năm 2015 và những năm tiếp theo. Các tổ chức quốc tế, như WB, ADB, HSBC, S&P, Moody’s, Ernst&Young dự báo tăng trưởng GDP năm 2014 của Việt Nam ở mức 5,4-5,6%, đạt mức 6% trong năm 2015 và tăng lên 6-7% trong giai đoạn 2016-2017./.
Anh Nguyễn tổng hợp

1. “Trật tự thế giới: luật lệ mới hay là cuộc chơi không có luật lệ”?

“Trật tự thế giới: luật lệ mới hay là cuộc chơi không có luật lệ”?
21:6' 11/12/2014
TCCSĐT - Tại Diễn đàn Câu lạc bộ quốc tế Van-đai (Valdai) được tổ chức tại thành phố Xô-chi của nước Nga cuối tháng 10-2014 để bàn thảo về tình hình thế giới đầy bất ổn hiện nay, Tổng thống Nga V. Pu-tin đã có bài phát biểu về chủ đề “Trật tự thế giới: những luật lệ mới hay là cuộc chơi không có luật lệ”.

Câu lạc bộ quốc tế Van-đai do Hội đồng về chính sách đối ngoại và quốc phòng của Liên bang Nga cùng với hãng thông tấn Nga RIA-Novosti, báo The Moscow News, hai tạp chí Rusia in Global Affairs, Russia Profile và nhiều trường đại học ở Nga phối hợp thành lập vào năm 2004 để tạo diễn đàn cho các chính khách và chuyên gia hàng đầu thế giới bàn thảo về tình hình thế giới và tình hình nước Nga nhằm đưa ra những nhận định khách quan về tình hình thế giới và tình hình nước Nga.

Trong 10 năm qua, Câu lạc bộ quốc tế Van-đai đã tổ chức 11 diễn đàn. Tham gia diễn đàn năm nay có 108 chính khách, chuyên gia nghiên cứu chính trị, kinh tế và quân sự hàng đầu thế giới đến từ 25 quốc gia. 

Thời điểm tổ chức diễn đàn năm 2014 này có hai chi tiết đáng chú ý. Một là, nước Nga đang bị Mỹ và các đồng minh phương Tây bao vây và trừng phạt kinh tế. Hai là, trong những năm gần đây, luật pháp quốc tế nói chung và Hiến chương Liên hợp quốc nói riêng bị một số nước phương Tây vi phạm một cách nghiêm trọng, thể hiện trước hết là đơn phương áp đặt cấm vận đối với những quốc gia nào không đáp ứng lợi ích của họ; đơn phương can thiệp chủ quyền của các quốc gia. Do đó, lúc này trật tự thế giới mới đang ở trong giai đoạn hình thành mang tính bước ngoặt chưa có tiền lệ trong lịch sử, trong đó các quốc gia cần phối hợp hành động để bảo vệ những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc là tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích của tất cả các quốc gia, không phân biệt lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, mạnh hay yếu. 

Xuất phát từ tính chất và thời điểm tổ chức diễn đàn năm nay, Tổng thống Nga V. Pu-tin, một lần nữa, lại có bài phát biểu về trật tự thế giới, đề cập trực tiếp tới quan điểm của Nga về trật tự thế giới, về chính sách đối ngoại và vị thế của nước Nga…

Về trật tự thế giới 

Theo Tổng thống V. Pu-tin, trật tự thế giới đơn cực hình thành sau Chiến tranh lạnh đã chứng tỏ thế giới không có khả năng đối phó với những nguy cơ, như xung đột khu vực, chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu ma túy, chủ nghĩa cực đoan khu vực, chủ nghĩa sô-vanh, chủ nghĩa phát-xít mới… “Trên thế giới đang tích tụ nhiều mâu thuẫn. Thật đáng tiếc là hệ thống an ninh toàn cầu và khu vực đã không có khả năng giúp chúng ta tránh được các xáo động. Các thể chế tương tác về chính trị, kinh tế, văn hóa trên phạm vi toàn cầu và khu vực đang trải qua một giai đoạn phức tạp”. Tổng thống V. Pu-tin nhấn mạnh: “Chiến tranh lạnh đã kết thúc nhưng nó lại không được ghi nhận bằng các hiệp ước “hòa bình”, bằng các thỏa thuận dễ hiểu, minh bạch về việc cần tuân thủ các luật lệ hiện có hoặc tạo dựng các luật lệ và tiêu chuẩn mới. Thế giới đang cảm nhận thấy rằng, cái gọi là “những kẻ chiến thắng” trong Chiến tranh lạnh đang rắp tâm sắp xếp lại trật tự thế giới chỉ để phục vụ lợi ích của họ. Trong điều kiện một quốc gia và các đồng minh của họ chiếm ưu thế, thì việc tìm kiếm các giải pháp toàn cầu đã biến thành tham vọng của họ áp đặt các luật lệ riêng cho cả thế giới. Tham vọng của nhóm nước này lớn tới mức họ nghiễm nhiên áp đặt cách tiếp cận và quan điểm của họ cho cả cộng đồng quốc tế. Nhưng thực tế lại không chấp nhận điều đó”. 

Theo nhận định của ông V. Pu-tin, sự thiếu vắng các công cụ pháp lý và chính trị, vũ khí đã đóng vai trò trung tâm trong chương trình nghị sự toàn cầu, trong đó người ta tùy tiện sử dụng chúng ở bất kỳ đâu, bằng bất cứ cách thức nào, không cần được phép của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Còn nếu Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc từ chối giải pháp sử dụng vũ lực thì người ta tuyên bố rằng tổ chức này là công cụ đã bị lỗi thời và không có hiệu lực. 

Chính sự thống trị đơn phương và sự áp đặt ý chí chính trị của một quốc gia đối với phần còn lại của thế giới sẽ dẫn tới chỗ: thay vì giải quyết xung đột là leo thang xung đột; thay vì tạo ra các quốc gia có chủ quyền và bình yên là một không gian bất ổn ngày một mở rộng; thay vì tạo ra dân chủ là sự ủng hộ một nhóm người đáng ngờ. Nhân loại đang chứng kiến những nỗ lực chia nhỏ thế giới, tạo ra các đường phân định mới, thành lập các liên minh không theo nguyên tắc “ủng hộ” mà là chống lại một ai đó, hình thành hình ảnh “kẻ thù” tương tự như trong thời kỳ Chiến tranh lạnh và tạo dựng quyền lãnh đạo thế giới, nếu không muốn nói là sự chuyên chế độc quyền.

Về sự cấm vận trong quan hệ quốc tế, Tổng thống V. Pu-tin cho rằng, các biện pháp cấm vận đang tàn phá các cơ sở nền tảng của thương mại và các định chế của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), phá hoại các nguyên tắc sở hữu tư nhân, làm sụp đổ mô hình toàn cầu hóa thương mại tự do dựa trên cơ sở thị trường, tự do và cạnh tranh - một mô hình do chính các nước phương Tây đề xướng và chủ trương áp dụng phổ biến trên thế giới. Vì thế, quan hệ quốc tế cần phải được xây dựng trên cơ sở luật pháp quốc tế với nền tảng là các nguyên tắc nhân đạo như bình đẳng, công bằng, sự thật, trong đó, chủ yếu là tôn trọng đối tác và lợi ích của họ. Đây là luật chơi hiển nhiên và một khi được thực hiện sẽ thay đổi căn bản tình hình thế giới.

Tổng thống V. Pu-tin khẳng định, những ý kiến cho rằng nước Nga đang cố gắng phục hồi vị thế đế chế trước đây, gây tổn hại đến chủ quyền của một số nước láng giềng, là hoàn toàn không có căn cứ. Trong khi đó, Mỹ và một số nước phương Tây đã gây ra hàng loạt cuộc xung đột trên thế giới, như ở Li-bi, Xy-ri và I-rắc. Chính sách của họ đã không tạo ra một nền hòa bình và dân chủ trên thế giới.

Về quan hệ Nga - Mỹ

Trong quan hệ với Nga, Tổng thống V. Pu-tin nhận định rằng, các nước phương Tây vẫn tự coi mình là kẻ “chiến thắng” trong Chiến tranh lạnh và luôn ứng xử với Nga như một kẻ “chiến bại” và vì thế họ không chấp nhận và không tôn trọng lợi ích hợp pháp, hiển nhiên của Nga ở nhiều khu vực trên thế giới, trước hết trong không gian hậu Xô-viết. Phương Tây đã sử dụng bộ máy truyền thông khổng lồ của mình trên phạm vi toàn cầu để bóp méo và xuyên tạc sự thật về nước Nga, về hình ảnh của Nga trên thế giới, coi Nga cùng với I-ran và một số nước khác là “trung tâm tội ác” giống như trước đây họ từng gọi Liên Xô là “đế chế tội ác”. Từng sử dụng các tổ chức khủng bố như An Kê-đa chống lại Liên Xô ở Áp-ga-ni-xtan trong những năm 80 của thế kỷ trước, hiện nay, một số nước phương Tây vẫn tiếp tục sử dụng các tổ chức khủng bố thâm nhập vào không gian hậu Xô-viết, trước hết là ở các nước Trung Á. 

Năm 2002, Mỹ đơn phương rút khỏi Hiệp ước phòng thủ tên lửa ký với Liên Xô năm 1972 và tự xây dựng “lá chắn tên lửa” toàn cầu nhằm giành ưu thế chiến lược đơn phương. Việc Mỹ đơn phương áp đặt lệnh trừng phạt kinh tế Nga là phá hoại mọi quy tắc của luật thương mại tự do đề ra trong WTO mà Nga là thành viên. 

Tổng thống V. Pu-tin khẳng định, mặc dù Mỹ và EU tiếp tục trừng phạt Nga nhưng Mát-xcơ-va sẽ không bao giờ “cầu xin” nước khác dỡ bỏ trừng phạt; sẽ không bao giờ yêu cầu ai đó làm điều gì và sẽ không khoanh tay đứng nhìn Mỹ, EU trừng phạt Nga, và, nước Nga sẽ vượt qua khó khăn này. Chính sách cấm vận Nga của Mỹ và EU là một sai lầm. 

Về cuộc khủng hoảng U-crai-na và chính sách hướng Đông của Nga

Tổng thống V. Pu-tin bác bỏ những cáo buộc của phương Tây đối với Nga về cuộc khủng hoảng U-crai-na, rằng Nga đứng đằng sau các lực lượng ly khai ở miền Đông Nam nước này. Ngay từ đầu, Mát-xcơ-va đã ủng hộ các bên ở U-crai-na thực hiện Thỏa thuận ngày 21-02-2014 trước sự chứng kiến của các nước Anh, Pháp, Đức và Ba Lan để giải quyết hòa bình cuộc xung đột nhưng không nước nào muốn lắng nghe Nga. Rút cuộc, phương Tây đã đẩy U-crai-na vào tình trạng hỗn loạn, sụp đổ kinh tế - xã hội với cuộc nội chiến gây tổn thất lớn. 

Về việc Nga chấp thuận sáp nhập Crưm, Tổng thống V. Pu-tin nhắc lại khái quát những gì đã xảy ra liên quan tới sự kiện này và khẳng định việc làm đó hoàn toàn phù hợp với Điều 1, Khoản 2 của Hiến chương Liên hợp quốc quy định quyền tự quyết của các dân tộc, đồng thời khẳng định, những gì diễn ra ở Crưm là hậu quả từ cuộc đảo chính nhà nước ở Ki-ép vào ngày 22-02-2014 bằng vũ lực. Để tránh thảm họa tái diễn, Chính phủ và Quốc hội Crưm phải tổ chức cuộc trưng cầu ý dân để tách khỏi U-crai-na. Họ có đầy đủ cơ sở pháp lý để làm điều đó vì Crưm có Chính phủ riêng và Quốc hội riêng. Sau cuộc trưng cầu này, thể theo ý nguyện của tuyệt đại đa số người dân, Chính quyền Crưm đề nghị được sáp nhập vào Nga. Các lực lượng vũ trang Nga đóng tại căn cứ quân sự ở Biển Đen của Crưm đã giúp chính quyền tại đây khống chế hành động gây hấn của quân đội U-crai-na lúc đó đang hiện diện ở Crưm, hoàn toàn không nhằm gây áp lực buộc người dân ở đây phải đi bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu này. Đối với khu vực Đông Nam U-crai-na, Nga chủ trương trước sau như một tôn trọng và ủng hộ một nhà nước U-crai-na có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Tuy nhiên, lịch sử hình thành nhà nước U-crai-na trong biên giới như hiện nay là cả một quá trình phức tạp. 

Về chính sách hướng Đông, Tổng thống V. Pu-tin khẳng định: “Hiện nay ở phương Tây vẫn còn ý kiến cho rằng nước Nga đang xa lánh châu Âu và tìm kiếm các đối tác mới, trước hết là ở châu Á. Nhưng thực tế tuyệt đối không phải như vậy. Chính sách của Nga hướng tới châu Á - Thái Bình Dương đã được hoạch định cách đây vài năm chứ không phải bây giờ và cũng không liên quan tới các biện pháp cấm vận, xuất phát từ xu thế phương Đông đang giành vị thế ngày càng đáng kể trên thế giới, trong đó có lĩnh vực kinh tế”.

Tổng thống V. Pu-tin nhấn mạnh, nước Nga không đòi hỏi một vị thế đặc biệt nào trên thế giới. Nga trước sau như một chủ trương tôn trọng lợi ích của các nước khác nên muốn các nước khác cũng tính đến và tôn trọng lợi ích của Nga. Nga không có ý định đóng cửa với thế giới bên ngoài và lựa chọn một sự phát triển khép kín, luôn sẵn sàng đối thoại nhằm bình thường hóa quan hệ kinh tế và chính trị, có tính đến cách tiếp cận và quan điểm thực dụng của giới doanh nhân ở các nước dẫn đầu thế giới. Nga là quốc gia độc lập, sẽ phát triển trong điều kiện kinh tế đối ngoại hiện có và phát triển nền sản xuất cũng như công nghệ trong nước, sẽ kiên quyết cải cách. Vì thế, áp lực từ bên ngoài chỉ khiến xã hội Nga đoàn kết hơn. 

Tổng thống V. Pu-tin cho biết, Nga đi đầu trong cuộc đấu tranh bảo vệ những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, các chuẩn mực công pháp quốc tế và những giá trị đã trở thành tài sản chung của toàn nhân loại.

Phản ứng của dư luận quốc tế về bài phát biểu của Tổng thống Nga 

Theo nhận định của Nin Buc-lây (Neal Buckley), bình luận viên và biên tập viên báo Financial Times (Anh), bài phát biểu của ông V. Pu-tin tại Diễn đàn Câu lạc bộ Van-đai là tuyên bố mạnh mẽ nhất về chính sách đối ngoại của ông kể từ sau bài phát biểu tại Mu-nich năm 2007 và là “một trong những tuyên bố phê phán Mỹ gay gắt nhất trong 15 năm gần đây”. Tờ The New York Times (Mỹ) cũng nhận xét: “Bài phát biểu của ông V. Pu-tin là lời cáo buộc Mỹ gay gắt nhất”. Còn ông V. Pu-tin thì cho rằng, hiện nay những nhận định và đánh giá ngay thẳng và gay gắt là cần thiết không phải là để khích bác nhau mà là để cùng phân tích làm rõ bản chất những gì đang diễn ra trên thế giới, do đâu thế giới ngày nay trở nên kém an toàn hơn, khó dự đoán hơn và vì sao nguy cơ rình rập chúng ta ở khắp mọi nơi. Theo Tổng thống V. Pu-tin, không thể xây dựng được các luật chơi mới một cách minh bạch và dễ hiểu trong quan hệ quốc tế nếu không phân tích phê phán cấu trúc của trật tự thế giới đơn cực đang trở nên hỗn loạn. 

Về ý nghĩa bài phát biểu của Tổng thống V. Pu-tin, ông Phrăng Clin-xê-vich (Frans Klinsevich), Đại biểu Thượng viện Nga, nhận xét: “Tư tưởng cốt lõi trong bài phát biểu của Tổng thống V. Pu-tin là thế giới đã thay đổi căn bản và do đó cần có cách tiếp cận hoàn toàn mới để giải quyết các vấn đề toàn cầu. Bài phát biểu này buộc các nhà lãnh đạo ở phương Tây phải có câu trả lời”. Ông Phơ-răng Clin-xê-vich so sánh tầm quan trọng của bài phát biểu của Tổng thống V. Pu-tin với bài phát biểu của Thủ tướng Anh Uyn-xtơn Sơc-sin (Winston Churchill) năm 1946. Tuy nhiên, mục đích hai bài phát biểu đó là hoàn toàn khác nhau. Nếu bài phát biểu của U. Sơc-sin khởi đầu Chiến tranh lạnh, thì bài phát biểu của Tổng thống V. Pu-tin kêu gọi hòa bình, đối thoại và hợp tác. Ông V. Pu-tin phê phán gay gắt chính sách của Mỹ nhưng không chống Mỹ, vẫn coi Mỹ là đối tác. 

Chuyên gia phân tích chính trị A. Côn-cốp (Alexander Konkov) nhận xét: “V. Pu-tin là nhà lãnh đạo đầu tiên trên thế giới nêu bật các quá trình đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Đó là, cuộc khủng hoảng luật pháp quốc tế và quan hệ quốc tế. Các chính khách và các lực lượng chính trị ở phương Tây không muốn nói rõ tên gọi các quá trình đó vì nhiều lý do. Còn V. Pu-tin là người đầu tiên trong số các nhà lãnh đạo và các chính khách trên thế giới gọi mọi thứ bằng tên gọi của nó: trắng là trắng và đen là đen, không thể trắng đen lẫn lộn”.

I-ri-na Y-a-rô-vai-a (Irina Yarovaija), Chủ tịch Ủy ban quốc gia về an ninh và chống tham nhũng, nhận xét: “Tổng thống V. Pu-tin chỉ ra những nguy cơ và thách thức mà nước Nga phải đối mặt để bảo vệ lợi ích quốc gia. Bằng ngôn từ đơn giản và dễ hiểu, V. Pu-tin đã giải thích rõ những hậu quả nghiêm trọng từ chính sách bá quyền của Mỹ đối với thế giới”.

Chuyên gia nghiên cứu hàng đầu của Viện các vấn đề an ninh quốc tế A-lêch-xây Phe-nen-cô (Alexei Fenenko) nhận xét: “Bài phát biểu của Tổng thống V. Pu-tin là sự phát triển ý tưởng trong bài phát biểu nổi tiếng tại Diễn đàn an ninh quốc tế Mu-nich năm 2007, trong đó không chấp nhận trật tự thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo”.

Nhà báo Mỹ Mac Chăm-pi-ôn (Marc Champion) trong bài viết có tựa đề “Redrawing the World at Putin's Annual Gabfest” trên trang mạng Bloomberg ngày 23-10-2014 nhận xét: “Bài phát biểu của V. Pu-tin gửi đi thông điệp rằng, để thoát khỏi cuộc khủng hoảng U-crai-na, Nga và Mỹ cần phối hợp nỗ lực chung tuy đã quá muộn”.

Nhà báo Mỹ Ca-run Đe-mi-ri-an (Karoun Demirjian) trong bài viết “Russia’s Putin blames U.S. for destabilizing world order” trên tờ The Washington Post ngày 24-10-2014, nhận xét: “V. Pu-tin cáo buộc Mỹ gây ra tình tình bất ổn trên thế giới và rắp tâm sắp đặt lại trật tự thế giới để phục vụ lợi ích của Mỹ. Do đó, U-crai-na sẽ không phải là cuộc xung đột cuối cùng có sự tham gia của các nước lớn”./. 

------------------------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Выступление Владимира Путина на заседании международного дискуссионного клуба «Валдай».http://www.regnum.ru/news/polit/1860184.html

2. Мир у исторической развилки. http://www.fondsk.ru/news/2014/11/04/mir-u-istoricheskoj-razvilki-30239.html
Trong bài phát biểu tại Hội nghị an ninh quốc tế được tổ chức tại thành phố Mu-nich (Đức) vào năm 2007, của Tổng thống V. Pu-tin đưa ra nhận định “4 không” đối với trật tự thế giới đơn cực. Đó là: không lô-gic; không phù hợp với đạo lý; không dân chủ và không thể chấp nhận. Ông V. Pu-tin khẳng định, trong thế giới ngày nay, lợi ích và an ninh của tất cả các quốc gia trên thế giới, dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, mạnh hay yếu đều phụ thuộc lẫn nhau và cần phải được tôn trọng.


Đại tá Lê Thế Mẫu

Monday, November 3, 2014

14.VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH THAM GIA HIỆN THỰC HÓA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC) THỰC TRẠNG VÀ ĐỐI SÁCH



Võ Minh Tập
NCS, Trường Đại học KHXH-NV TP.Hồ Chí Minh
  
Tóm tắt/ Abstract
Trải qua gần 47 năm xây dựng và phát triển, ASEAN là một tổ chức khu vực thuộc loại năng động nhất thế giới. Sự kiện được xem là bước ngoặt trong lịch sử phát triển của tổ chức ở thế kỉ XXI là tiến đến xây dựng Cộng đồng ASEAN (AC) vào năm 2015, trong đó, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được đánh giá là nổi bật và quan trọng nhất. Như vậy, lộ trình xây dựng và hiện thực hóa AC, cũng như AEC phải mất thời gian hơn 10 năm (2003 – 2015).
Căn cứ vào cơ sở lí luận và thực tiễn của ASEAN, việc hiện thực hóa AEC đem lại những thuận lợi, cơ hội tích cực cho các nước thành viên nhưng cũng gặp phải rất nhiều thách thức, thậm chí dẫn đến tụt hậu trong quá trình liên kết, hội nhập và phát triển, nhiều vấn đề tiếp tục được đặt ra. Đối với Việt Nam, xét về kinh tế và yếu tố hội nhập vẫn còn gặp nhiều bất cập như về tăng trưởng, năng lực cạnh tranh, kết cấu hạ tầng giao thông và năng lượng, qui mô thị trường và cấu trúc ngành nghề, chất lượng các nguồn lực, chênh lệch trình độ phát triển, cơ chế và chính sách…
Do đó, bài viết này tập trung phân tích và làm rõ: (1) Khái quát Cộng đồng kinh tế ASEAN và vai trò của Việt Nam; (2) Thực trạng Việt Nam khi tham gia và hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN; và (3) Đối sách của Việt Nam đối với quá trình hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN.
Từ khóa: ASEAN, cộng đồng ASEAN, đối sách, kinh tế….
  
VIETNAM IN PROCESS OF PARTICIPATING IN REALIZING
THE ASEAN ECONOMIC COMMUNITY (AEC):
REAL SITUATION AND RESPONSE
   After nearly 47 years of implementation and development, ASEAN is one of the most dynamic regional organizations. The event which is considered as a milestone in the history development of organization in the XXI century, is setting up ASEAN Community (AC) in 2015, of which, the ASEAN Economic Community is appreciated  as the most prominent and important. Thus, the plan in implementing and realizing AC, as well as AEC has been taken for over 10 years (2003-2015).
   Based on the theoretical basis and reality of ASEAN, realization of AEC not only brings about advantages, positive chances to the national members but also a lot of challenges, or even leads to lagging behind in process of connection, integration and development, a lot of issues continue appear. For Vietnam, in term of economy and integration factors still remain many inadequacies such as growth, competitiveness, transport infrastructure and energy, market scope and profession structure, quality of sources, difference in development level, institutional and policy…
   Therefore, this article focuses on analysing and clarifying: (1) Generalized of economy community ASEAN and role of Vietnam; (2) Reality of Vietnam when participating and realizing the ASEAN economic Community; and (3) Response of Vietnam with ASEAN economic community's realizing process.
Key words: ASEAN, ASEAN community, response, economy…
1. Khái quát cộng đồng kinh tế ASEAN và vị trí của Việt Nam
Ý tưởng về Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)[1] đã được Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong đề xuất tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN VIII tại Campuchia (11/2002) và chính thức được các nguyên thủ quốc gia thành viên ASEAN nhất trí thành lập AEC vào năm 2020 tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 (Bali, Indonesia, 10/2003), nhưng do bối cảnh thế giới và khu vực thay đổi, đến Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 12 (Cebu, Philippin, 1/2007) đã nhất trí đẩy nhanh quá trình xây dựng AC vào năm 2015 và đưa ra Kế hoạch Tổng thể AEC (AEC Blueprint) 12/2007 tại Singapore.
Kế hoạch Tổng thể AEC nhấn mạnh “AEC là mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế như đã được nhấn mạnh trong Tầm nhìn ASEAN 2020[2], dựa trên sự hội tụ các lợi ích của các nước thành viên ASEAN nhằm làm sâu sắc và mở rộng hội nhập kinh tế thông qua sáng kiến hiện có và những sáng kiến mới với thời gian đã định”[3]. Theo đó, Kế hoạch Tổng thể đặt ra mục tiêu làm thay đổi ASEAN thành một thị trường và cơ sở sản xuất duy nhất; một khu vực kinh tế có tính cạnh tranh cao; một khu vực phát triển kinh tế đồng đều và hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu[4]. Bốn nội dung nêu trên cũng chính là những đặc trưng quan trọng nhất của mô hình AEC 2015. Vì vậy, lộ trình mà AEC cần thiết phải thực hiện các cam kết thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, tự do hóa luồng vốn, công nghệ và nguồn nhân lực vào một cơ sở sản xuất và thị trường chung… Đây là những nội dung chính mà các nước trong khu vực đang hết sức nỗ lực hoàn thành nhằm thực hiện được mong muốn hội nhập khu vực ở mức độ sâu nhất có thể.
Về mô hình, việc thực hiện thành công mô hình AEC với 4 đặc trưng nêu trên, ASEAN sẽ là một thị trường chung, có sự lưu chuyển tự do các yếu tố sản xuất như hàng hóa, vốn, nguồn nhân lực, dịch vụ, đầu tư, lao động có kĩ năng…
Về thời gian, AEC sẽ phải hoàn thành vào năm 2015.
Về biện pháp thực hiện, các thành viên ASEAN sẽ đẩy nhanh tiến trình hội nhập thông qua các chương trình sẵn có và mới như tự do thương mại hàng hóa tiến tới hoàn thành Khu vực tự do thương mại ASEAN (AFTA); triển khai và hoàn thành các hiệp định như Hiệp định về thuế quan ưu đãi (CEPT), Hiệp định Thương mại Hàng hóa (ATIGA), tự do hóa một số lĩnh vực dịch vụ để hoàn thành Hiệp định khung về thương mại dịch vụ (AFAS), tự do hóa đầu tư và tạo lập Khu vực đầu tư ASEAN (AIA), thực hiện chế độ đầu tư tự do và mở nhằm hoàn thành Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA). Đồng thời nhanh chóng thu hẹp khoảng cách phát triển và xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng liên ASEAN là thực hiện Sáng kiến liên kết ASEAN (IAI), triển khai các FTA, CEP của ASEAN với các đối tác (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, và tương lai là Mĩ, EU). Mặt khác, các thành viên phải quyết tâm thực hiện kế hoạch phát triển và liên kết thị trường vốn, thực hiện tự do di chuyển của dòng vốn trong ASEAN, thiết lập các cơ chế khu vực nhằm tạo thuận lợi cho sự di chuyển tự do của lao động có kĩ năng, hoàn thành Hiệp định khung ASEAN về Hội nhập các khu vực ưu tiên và thức đẩy các chương trình hợp tác trong ASEAN về lương thực, nông, lâm nghiệp…
Về thể chế, ASEAN cần hoàn thiện các thể chế ở cả cấp độ quốc gia, khu vực và đẩy mạnh hợp tác với các vấn đề liên quan đến chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng…. Hiện tại, AEC vẫn là một thể chế còn lỏng lẽo, chưa có cơ quan giải quyết tranh chấp ra các quyết định có tính chất bắt buộc đối với các nước thành viên, cho nên trước mắt ASEAN cần củng cố cơ chế thực thi và giải quyết các tranh chấp thương mại nhằm tăng tính cưỡng chế cho các cam kết trong các hiệp định kinh tế khu vực, các nội dung cần thêm vào AEC như hoàn toàn tự do hóa lĩnh vực dịch vụ; xây dựng một cơ chế cho phép mọi đối tượng lao động được tự do di chuyển; tự do hóa hoàn toàn lĩnh vực tài chính và phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô[5]
Kết quả thực hiện bước dầu các biện pháp được ASEAN đưa ra từ năm 2008 đến tháng 12/2011 cho thấy, tỉ lệ thực hiện của bốn trụ cột như sau: Một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất đạt 65,9%; Khu vực có tính cạnh tranh cao đạt 67,9%; Một khu vực phát triển đồng đều đạt 66,7% và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu đạt 85,7%. Tính chung cả 4 trụ cột của AEC, các nước ASEAN đã hoàn thành 187/277 biện pháp, đạt tỉ lệ 67,5%[6] và đến 4/2013 thì ASEAN đã hoàn thành 259 biện pháp, đạt 77,54%[7]. Tính chung năm 2013, ASEAN đã hoàn thành khoảng 72% tổng số các biện pháp trong Lộ trình tổng thể xây dựng AEC. Riêng đối với các biện pháp ưu tiên hoàn thành AEC,ASEAN đã hoàn thành 81,7%[8]. Các lĩnh vực đang được thúc đẩy thảo luận là thu hẹp khoảng cách phát triển, xử lý các rào cản thương mại phi thuế quan, thuận lợi hóa thương mại, kết nối. ASEAN cũng đang nỗ lực nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của ASEAN trong các lĩnh vực nông-lâm-thủy sản, thảo luận khuôn khổ về an ninh lương thực ASEAN.
Như vậy, chỉ còn 2 năm nữa, AEC trở thành hiện thực cho toàn bộ khu vực, những tham vọng lớn lao đó được các nước kì vọng. Tuy nhiên, kết quả bước đầu cũng cho thấy độ chín muồi của các trụ cột mà ASEAN thực thi để năm 2015 trở thành hiện thực còn là một thách thức, khó khăn lớn cần phải vượt qua, nếu không hoàn thành tốt các mục tiêu đặt ra, khi AEC thành hiện thực thì sau đó sẽ gặp không ít trở ngại và khó khăn nối tiếp và dài thêm.
Hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng theo chiều dài của lịch sử phát triển, Việt Nam luôn ưu tiên chiến lược trong quá trình mở rộng cơ chế hợp tác với các đối tác trong và ngoài khu vực. ASEAN luôn là điểm tựa và là cầu nối trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, đặc biệt là trong thế kỉ XXI. Tham gia AEC là thước đo để đánh giá quá trình hội nhập kinh tế với không gian rộng hơn, thể chế phức tạp hơn, tính chất cạnh tranh quyết liệt hơn, từ đó Việt Nam có cơ hội điều chỉnh và hoàn thiện mình, để mang lại lợi ích, thịnh vượng và phồn vinh cho đất nước.
Chính vì thế, vai trò của Việt Nam trong quá trình hiện thực hóa AC nói chung và AEC nói riêng được phản ảnh trên các phương diện quan trọng sau: Việt Nam đã có vai trò tích cực trong việc đoàn kết khu vực, đưa ASEAN trở thành diễn đàn hữu nghị và hợp tác thiết thực trên nhiều lĩnh vực. Những nổ lực của Việt Nam đối với ASEAN trong cả tiến trình phát triển của Hiệp hội là tiên phong, đi đầu. Từ vai trò là chủ tịch ASEAN 2010, đến vai trò Tổng thư kí ASEAN hiện nay, Việt Nam đã và đang thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong quá trình đưa ra các sáng kiến hợp tác, tham gia các diễn đàn khu vực và quốc tế quan trọng, góp phần đóng góp to lớn cho thành công của AEC.
Việt Nam giúp ASEAN duy trì đoàn kết, hợp tác và củng cố vị thế của Hiệp hội thông qua các Chương trình Hành động Hà Nội (HPA), để thực hiện tầm nhìn ASEAN 2020, đóng góp các biện pháp, khung thể chế, thực hiện lộ trình để rút ngắn hiện thực hóa AEC 2015. Việt Nam là nước phát triển kinh tế khá năng động, luôn có trách nhiệm hoàn thành các cam kết AEC, vượt qua các nước ASEAN 4, tạo niềm tin cho hội nhập khu vực, nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
2.2. Thực trạng Việt Nam khi tham gia và hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN
Tham gia và hiện thực hóa AEC là một nổ lực rất lớn của các quốc gia thành viên nói chung và Việt Nam nói riêng, đây cũng là một nội dung thực tế để đánh giá sự hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam trong thời kì toàn cầu hóa. Tuy nhiên, dưới tác động của các yếu tố từ bên ngoài (ngoại lực) và bên trong (nội lực), nhất là yếu tố bên trong cần phải được đánh giá thực tế để thấy được vị thế, chỗ đứng, đóng góp và triển vọng của Việt Nam khi tham gia AEC.
Thứ nhất, về quyết tâm chính trị, ý chí và nổ lực của Việt Nam. Đây là vấn đề được cho là quan trọng nhất để đánh dấu sự thành công hay thất bại của Việt Nam, cũng như chính AEC. Những tham vọng của AEC là rất lớn, là hợp lí, nhưng để thực thi nó là không dễ dàng. Lý do được đưa ra ở chính quyết tâm của các nước thành viên, khi tình hình chính trị, an ninh khu vực đầy biến động như hiện nay (xét về cạnh tranh chiến lược các nước lớn tại khu vực, nhân tố Trung Quốc và quan hệ của các nước ASEAN với các đối tác bên ngoài), khả năng đóp góp, ứng xử của từng nước, nhất là lợi ích mà các nước theo đuổi. Trong vấn đề Biển Đông, các nước trong khu vực có nhiều cách ứng xử khác nhau, làm cho ASEAN có dấu hiệu bị chia rẽ lớn. Để hiện thực hóa AEC thì các thành viên ASEAN cần đoàn kết và ý chí chính trị luôn đóng vai trò quan trọng nhất, vì đây là lĩnh vực nhạy cảm và là xương sống trong hợp tác khu vực. Ở vấn đề này, Việt Nam là nước có quyết tâm, ý chí và nổ lực rất cao và chân thành. Điều này thể hiện các hoạt động của Việt Nam trong ASEAN như tổ chức Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN, hội nghị các quan chức chuyên môn cao (cấp Thứ trưởng và Vụ trưởng), ở cương vị Tổng thư kí ASEAN, Chủ tịch ASEAN, sáng kiến AIA… đến việc thực thi và kí kết các hiệp định về kinh tế của ASEAN…Tuy nhiên, trở ngại lớn hiện nay mà Việt Nam cần phải cố gắng vượt qua như đồng thuận với các thành viên trong việc đưa ra các kế hoạch, các biện pháp thực hiện; chủ nghĩa bảo hộ còn khá mạnh và níu kéo còn khá lớn trong khu vực; thu hẹp chênh lệch phát triển và cải cách thể chế điều tiết khu vực…
Thứ hai, về tiềm lực quốc gia. Việt Nam có nhiều thế mạnh để phát triển và hội nhập khu vực và thế giới. Là đất nước đông dân (hơn 90 triệu người), có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, tiềm năng cần phải được khai thác và sử dụng. Tuy nhiên, nguồn nhân lực của Việt Nam chất lượng vẫn còn thấp do bất cập của ngành giáo dục và đào tạo và cung cách sử dụng, thu hút nguồn nhân lực, nhân tài của Việt Nam không hiệu quả, điều này làm lãng phí và thất thoát về nguồn nhân lực của Việt Nam so với các nước trong khu vực. Tài nguyên thiên nhiên (năng lượng, du lịch, biển đảo,…) là ưu thế lớn của Việt Nam nhưng còn nhiều bất cập. Sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự, trình độ khoa học – công nghệ, cơ sở hạ tầng, pháp luật và chính sách… còn thấp so với nhiều nước, nhất là còn thấp so với các nước ASEAN-6 (Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, Philippin, Brunei).
Thứ ba, về năng lực cạnh tranh[9]; trình độ phát triển kinh tế và tăng trưởng. Theo Diễn đàn kinh tế thế giới xếp hạn cạnh tranh 144 quốc gia năm 2012 – 2013, trong đó các nước ASEAN 6 ở hạng rất cao, còn ASEAN 4, xếp hạng rất thấp, Việt Nam xếp hạn 75, tụt 10 bậc so với năm 2011 – 2012, đến năm 2013 – 2014, Việt Nam tăng lên 5 bậc. Cụ thể, theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), việc tăng hạng này chủ yếu nhờ những cải thiện của Việt Nam về môi trường kinh tế vĩ mô (xếp thứ 87, tăng 19 bậc) khi lạm phát trở về mức một con số trong năm 2012, chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông và năng lượng cũng được cải thiện (xếp thứ 82, tăng 13 bậc. Ngoài ra, Việt Nam cũng có bước tiến về hiệu quả thị trường hàng hóa (xếp thứ 74, tăng 17 bậc nhờ giảm các rào cản thương mại và thuế quan. Theo bản báo cáo năm 2014/2015 của WEF, thứ hạng của Việt Nam tăng thêm 2 bậc so với năm 2012-2013,  Việt Nam có điểm cạnh tranh GCI là 4,23 đứng thứ  68, sau 5 nước ASEAN không thay đổi thứ hạng là Singapore 2; Malaysia 20; Thái Lan 31; Indonesia 34 và Philippin 52, Việt Nam đứng trên Lào 93 (tụt 12 bậc), Campuchia 95 (tụt 13 bậc), Myanmar 134 (tăng 5 bậc). Trong đó, xếp hạn cạnh tranh của Việt Nam về thể chế (3,51 xếp 92); kết cấu hạ tầng (3,74 xếp 81); môi trường kinh tế vĩ mô (4,66 xếp 75) và các lĩnh vực giáo dục tiểu học và y tế (5,86, xếp 61). Đối với môi trường kinh tế vĩ mô, Việt Nam hiện đứng thứ 75 trên thế giới và thứ 6 trong ASEAN, thấp hơn Singapore (thứ 15), Thái Lan (thứ 19), Philippines (thứ 26), Indonesia (thứ 34), Malaysia (thứ 44),  nhưng cao hơn Campuchia (thứ 90), Myanmar (thứ 116), Lào (thứ 124). Đối với trụ cột về kết cấu hạ tầng, mà nước ta coi là một trong ba đột phá chiến lược, Việt Nam xếp thứ 81, hay là đứng thứ 5 trong các nước ASEAN, sau các nước Singapore (thứ 2); Malaysia (thứ 25); Thái Lan (thứ 48); Indonesia (thứ 56), hơn Philippines, Lào, Campuchia và Myanmar. Lĩnh vực thể chế được xem là khâu đột phá chiến lược, nhưng thứ hạng còn kém, chỉ đứng thứ 92 trên thế giới, và xếp thứ 6 trong ASEAN, còn được xếp kém cả Singapore (thứ 3); Malaysia (thứ 20); Indonesia (thứ 53); Lào (thứ 63), Philippines (thứ 67); Thái Lan (thứ 84), chỉ hơn Campuchia (thứ 119) và Myanmar (thứ 127)[10]. Nhìn tổng quan, thứ hạng của Việt Nam vẫn không cao, đòi hỏi Việt Nam kiên trì nỗ lực hơn nữa trong dài hạn để vươn lên mạnh mẽ.
Xét về tăng trưởng kinh tế, ASEAN nói chung có mức độ tăng trưởng khá cao so với các khu vực khác trên thế giới, năm 2010 là 7,8%, đến năm 2012 đạt bình quân 5,2%[11]. Riêng trong khu vực ASEAN, theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tốc độ tăng trưởng trung bình là năm 2006 (6,1%), 2008 (4,2%), 2009 (1,2%), 2010 (7,8%), 2012 (5,7%), 2013 (5,1%). Nhưng so với từng nước trong khu vực ASEAN thì không đồng đều, riêng Việt Nam đạt được tốc độ khá cao từ 5,3% (2009) lên 6,78% (2010), năm 2012 lại giảm xuống còn 5,03%[12], năm 2013 khoảng 5,42% và có tín hiệu phục hồi. Tuy nhiên, vẫn còn thấp hơn so với các nước cùng thời điểm. Lý do cơ bản là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009, đã ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu chính của ASEAN và do năng suất lao động thấp đã ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng. Điều này cũng chứng minh cho khả năng cạnh tranh của ASEAN thấp, ảnh hưởng đến hiện thực hóa AEC sau 2015.
Ngoài ra, vấn đề lạm phát, nợ nần, thất nghiệp, thâm hụt thương mại cũng khá lớn ở khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng. So với các nước trong khu vực, Việt Nam có mức lạm phát lớn nhất từ 7,5%  (2006) lên 9,2% (2010) so với mức trung bình của ASEAN là 4%[13], năm 2011 tăng vọt đến 18,13%, cao nhất trong ASEAN, sau đó giảm xuống ở mức 1 con số là 6,81% (2012), 6,04% (2013), xếp thứ 3 trong khu vực, lạm phát khoảng 3 năm trở lại đây giảm là nhờ chính sách thắt chặt tiền tệ của Chính phủ. Tuy nhiên, theo đánh giá của bộ phận thống kê ASEAN (ASEAN stats) thì kết quả kiềm chế lạm phát ở Việt Nam vẫn còn chưa vững chắc, tiềm ẩn nhiều rủi ro[14].Các tổ chức quốc tế đều dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2014 dao động trong khoảng 5,4% -5,6% (thấp hơn so với chỉ tiêu mà Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ Sáu thông qua cuối năm 2013 là 5,8%) và lạm phát biến động quanh mức 6,5% - 7,9%[15],điều này do giá lương thực, thực phẩm, giá xăng và đồng nội tệ suy yếu. Về nợ nước ngoài, Việt Nam thấp hơn ASEAN 6 nhưng lại cao hơn các nước còn lại trong ASEAN 4. Đối với vấn đề quan trọng nữa ở lĩnh vực thâm hụt thương mại, hầu hết các nước đều có mức thâm hụt lớn, ít an toàn. So với các nước trong khu vực, Việt Nam có mức độ thâm hụt lớn nhất, ví dụ năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là 96,9 tỷ USD (tăng 34,2% so với năm 2010), trong khi đó nhập siêu là 106,7 tỷ USD (tăng 25,8%)[16]. Theo số liệu Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu năm 2013 đạt 142,7 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu đạt mức sát sao là 144,5 tỷ USD. kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2013 chỉ tăng 15,4% so với năm 2012, giảm so với mức tăng 34,2% của năm 2011 và 18,2% của năm 2012. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2013 tăng cùng mức 15,4% so với xuất khẩu, cao hơn mức 6,6% của năm 2012[17]. Nguyên nhân dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại chủ yếu là do tình trạng nhập siêu, dự trữ ngoại hối thấp, tỷ giá hối đoái giảm.
KIM NGẠCH XNK HÀNG HÓA, NHẬP SIÊU VÀ TỶ LỆ NHẬP SIÊU
QUA CÁC NĂM CỦA VIỆT NAM (2001 – 2013)
Năm
XK (triệu USD)
Tốc độ tăng XK (%)
Nhập khẩu (triệu USD)
Tốc độ tăng NK (%)
Nhập siêu (triệu USD)
Tỷ lệ nhập siêu so với XK (%)
2001
15.029,2
3,8
16.217,9
3,7
1.188,7
7,9
2002
16.706,1
11,2
19.745,6
21,8
3.039,5
18,2
2003
20.149,3
20,6
25.255,8
27,9
5.106,5
25,3
2004
26.485,0
31,4
31.968,8
26,6
5.483,8
20,7
2005
32.447,0
22,5
36.761,1
15,0
4.314,0
13,3
2006
39.826,2
22,7
44.891,1
22,1
5.064,9
12,7
2007
48.561,4
21,9
62.764,7
39,8
14.203,3
29,2
2008
62.685,1
29,1
80.713,8
28,6
18.028,7
28,8
2009
57.096,3
-8,9
69.948,8
-13,3
12.852,5
22,5
2010
71.629,0
26,4
84.801,2
21,2
12.609,3
17,5
2011
96.905,7
34,2
106.749,9
25,8
9.844,2
10,2
2012
114.529,0
18,2
113.780,0
6,6
748,8
0,7
2013
132.032,9
15,3
132.032,6
16,1
500,0
0,4
Nguồn: Niên giám của Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan và tính toán của tác giả.
Tóm lại, tổng quan về lộ trình trong quá trình tham gia và hiện thức hóa AEC, Việt Nam được đánh giá là thành viên tích cực, có trách nhiệm. Điều này thể hiện rõ ở những đóng góp quan trọng trong quá trình thực hiện các sáng kiến, biện pháp, kế hoạch tổng thể của AEC, nổi bật nhất là thực hiện ở 4 trụ cột về một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất (như tham gia các hoạt động về thương mại hóa bằng việc kí kết các Hiệp định Thương mại hàng hóa, góp phần tăng tỉ trọng thương mại nội khối từ 21% (1998) lên 25 % (2011)[18], về dòng tự do của lĩnh vực dịch vụ, dòng đầu tư và vốn tự do, dòng di chuyển tự do của lao động có kỹ năng…); thực hiện các biện pháp nhằm xây dựng khu vực kinh tế có tính cạnh tranh cao (như chính sách và luật cạnh tranh, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, công nghệ viễn thông, năng lượng); dần tích cực nổ lực để rút ngắn trình độ phát triển tạo nên khu vực phát triển kinh tế đồng đều và hội hập kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, thực tế phản ảnh Việt Nam còn nhiều việc phải làm, nổ lực hơn nữa, nếu so sánh với nhiều nước nội khối ở nhiều lĩnh vực vẫn còn hạn chế lớn, điều này tác động không nhỏ đến hiện thực hóa AEC nói riêng và AC nói chung.
3. Đối sách của Việt Nam đối với quá trình hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN.
Từ thực trạng phân tích ở trên và tác động của AEC, Việt Nam cần đưa ra đối sách có tính chiến lược (gồm những đối sách đã thực thi và những đối sách cần tiếp tục triển khai) trong bối cảnh mới trên tinh thần chủ động, tích cực và có trách nhiệm khi tham gia AEC, không chỉ đóng góp cho sự hội nhập và phát triển toàn khu vực mà còn phản ánh lợi ích sống còn của quốc gia. Đối sách của Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới có thể tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, Việt Nam cần thể hiện quyết tâm chính trị để xây dựng cộng đồng AC nói chung và AEC nói riêng cao hơn, tích cực hơn. Thời gian ngày càng được rút ngắn (đến 2015), nhiều vấn đề thách thức đặt ra hơn là cơ hội cả bên trong lẫn bên ngoài, nên Việt Nam cần thể hiện là thành viên năng động, thiện chí, kết nối ASEAN, hợp tác chặt chẽ hơn, thực hiện các cam kết đúng đắn và hiệu quả, tránh tình trạng bị các yếu tố bên ngoài gây chia rẽ nội khối, làm phá vỡ cấu trúc liên kết của ASEAN, nhất là các nước lớn bên ngoài khu vực. Vấn đề rõ nhất hiện nay là chính sách cạnh tranh của Mĩ và Trung Quốc ở khu vực, trong đó Trung Quốc là đối tác tiềm tàng nhất, là nhân tố dễ làm chia rẽ các thành viên trong khu vực, Campuchia là nước dễ bị phân hóa nhất, ngoài ra các nước khác (trừ những nước có tranh chấp Biển Đông với Việt Nam) dễ dàng thay đổi hành động vì lợi ích quốc gia, vì có lợi ích rất lớn về kinh tế với Trung Quốc. Để làm tốt điều này, Việt Nam cần tuân thủ nguyên tắc đồng thuận, tham vấn, tăng cường hợp tác về thể chế khu vực, ý thức được trách nhiệm và bổn phận của mình trước các vấn đề chung. Đây là biện pháp cực kì quan trọng quyết định tương lai hội nhập khu vực và hiện thực hóa AC.
Thứ hai, cải cách thể chế mạnh mẽ về kinh tế. Thực tiễn trong hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam bộc lộ nhiều khuyết điểm, cùng lúc ta tham gia nhiều sân chơi ở cấp độ toàn cầu, phần nào thiếu tính bền vững, phân cực. Khuyết điểm lớn là về thể chế và năng lực quản trị, quản lý bộ máy nhà nước về kinh tế ở cấp độ vĩ mô và cả vi mô, chất lượng nguồn lực yếu và kết cấu hạ tầng chưa cân xứng, khả năng quản lí và lành mạnh hóa tài chính còn nhiều bất cập. Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp, tập đoàn làm ăn thua lỗ, phá sản, nợ lớn, tăng trưởng GDP chủ yếu nhờ các công ty FDI, sự vận hành và cải cách hoàn thiện thể thế yếu nên nền kinh tế nhiều khi đứng trước những rủi ro lớn. Chính vì vậy, Việt Nam cần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tái cấu trúc nền kinh tế hướng đến tăng trưởng xanh, nâng cao năng lực quản trị công, cải cách thủ tục hành chính triệt để, cải cách doanh nghiệp, cải cách chính sách thu hút đầu tư và môi trường kinh doanh… Làm được điều này, nghĩa là Việt Nam sẽ phát huy nội lực bên trong, đồng thời thúc đầy hài hòa chính sách, thể chế liên kết giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực, tạo nền tảng cho sự thống nhất giữa các chính sách của quốc gia và khu vực, tăng tính năng động nhằm hiện thực hóa 4 trụ cột của AEC.
Thứ ba, tôn trọng và thực hiện đầy đủ các cam kết trong AEC. Như trên phân tích, việc thực hiện các cam kết của ASEAN hiện ở mức trung bình khá, chưa đạt tỷ lệ cao, điều này phản ảnh quá trình thực hiện các cam kết của nhiều thành viên là không đồng đều, tùy vào từng nước, nhóm nước, ít có tính ràng buộc pháp lí, điều này gây trở ngại lớn khi hiện thực hóa AEC vào 2015. Là thành viên tích cực trong ASEAN, Việt Nam cần rà soát, nghiên cứu và đánh giá lại mọi khâu (hiệp định, thể chế, đầu tư, thương mại, luật, tài chính, cạnh tranh…) mà mình có trách nhiệm thực thi. Để làm tốt điều này, Việt Nam cần phải thực hiện công tác phối hợp với các bộ phận trong nước (nhà nước, doanh nghiệp, kể cả người dân, nguồn lực…) để khẩn trương hoàn thành kế hộ trình thực hiện. Bên cạnh đó, vì thời gian không còn dài, Việt Nam chắc chắn còn nhiều vướng mắt cần tháo gỡ nên phải tăng cường các chương trình nghị sự giữa các nước trong khu vực, nhằm trao đổi những vấn đề cụ thể khi thực hiện, nhất là vai trò của Ban thư ký ASEAN về chức năng giám sát, giúp các nước thành viên nâng cao năng lực thực hiện.
Cuối cùng, đẩy mạnh nâng cao năng lực cạnh tranh, rút ngắn khoảng cách phát triển. Nhìn tổng thể, Việt Nam còn rất yếu những nội dung này, trình độ phát triển của Việt Nam còn khá chênh lệch so với các nước trong khu vực về nhiều mặt, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu, làm ăn nhỏ lẻ, manh mún, ngắn hạn, thiếu tầm nhìn chiến lược so với doanh nghiệp một số nước ASEAN. Để cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh (kể cả về thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, viện trợ, nguồn nhân lực…), Việt Nam đồng thời thực hiện liên kết giữa chính phủ - doanh nghiệp – sản phẩm là then chốt, vì đây là vấn đề quan trọng thiết yếu đối với nước ta trong lộ trình hiện thực hóa AEC và hội nhập khu vực và thế giới. Còn đối với việc rút ngắn khoảng cách phát triển, Việt Nam cần tận dụng tốt thành tựu khoa học – công nghệ của các nước tiên tiến, các nước phát triển trên thế giới và khu vực để phát triển rút ngắn. Riêng trong nội khối, Việt Nam cần phải tăng cường liên kết, kết nối mạng lưới về tài chính, cơ sở hạ tầng, thông tin viễn thông, dịch vụ, phát huy cả ngoại lực và nội lực cho sự phát triển đất nước. Tuy nhiên vấn đề này là thách thức không nhỏ đối với Việt Nam trong ngắn hạn cũng như dài hạn.
4. Kết luận
Trong bối cảnh quốc tế và khu vực đầy biến động và có tính khẩn trương, ASEAN luôn nêu cao tinh thần hội nhập và liên kết khu vực toàn diện, đi vào chiều sâu, thể hiện quyết tâm đầy tham vọng của cả nội khối nói chung và từng thành viên nói riêng. Điều này hoàn toàn là hợp lí trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa và quốc tế hóa về kinh tế quốc tế. Việc thực hiện lộ trình và hiện thực hóa AEC cũng là một trong những nét đặc trưng của nền kinh tế thế giới khi bước vào thập niên thứ hai của thế kỉ XXI. Đây cũng được coi là tính bùng nổ theo chiều hướng tích cực, mang đặc điểm riêng của ASEAN, là mơ ước, hòa bảo của hàng trăm triệu trái tim và khối óc của người dân Đông Nam Á. Chính vì vậy, dù cơ hội và niềm hy vọng là rất lớn nhưng thách thức cũng vô cùng lớn cần phải đối mặt. Chắc chắn AEC cũng như AC sẽ thành công vào năm 2015, nhưng có điều các thành viên trong ASEAN phải làm gì để cho AEC mang lại hiệu quả và lợi ích thiết thực, hướng đến phát triển bền vững và thịnh vượng.
Việc hiện thực hóa AEC vào 2015 đã gần đến giai đoạn hết hạn để hoàn thành, quá trình hoàn thành sau đó sẽ tác động đa chiều đối với toàn khu vực. Đối với Việt Nam là một thành viên, việc hiện thực hóa sẽ có những tác động tích cực cũng như tiềm ẩn những khó khăn, thách thức ở cả hiện tại và tương lai phía trước. Việt Nam cần có những đối sách, giải pháp để hoàn thành đại nghiệp ấy. Nếu những vấn đề như cải cách thể chế, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tái cấu trúc nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng lực cạnh tranh… một cách thỏa đáng thì tương lai tốt đẹp sẽ chờ đợi Việt Nam, cũng như ASEAN khi AEC được hiện thực hóa trong cấu trúc hợp tác khu vực Đông Nam Á và mở rộng cả khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Tài liệu tham khảo.
1. ASEAN Economic Community Blueprint, ASEAN Secretariat, January 2008.
2. ASEAN Economic Community scorecard, ASEAN Secretariat, Jakarta, March 2012.
3. ASEAN Economic Community Chartbook 2012 and 2013 ASEAN Secretariat, Jakarta, January 2013 and Mar 2013.
4. ASEAN Community in Figures (ACIF) 2010, 2011, 2012 and 2013, ASEAN Secretariat, Jakarta, April 2011, April 2012, March 2013 and Feb 2014.
5. ACB (2012), Asian Development Outlook Supplement Update, Dec 2012.
6. ADB (2011), Asian Development Outlook 2011, Philippines.
7. Nguyễn Huy Hoàng (2013), Đánh giá thực hiện các cam kết xây dựng Cộng đồng ASEAN, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
8. Nguyễn Văn Hà (Chủ biên, 2013), Hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN và tác động đến Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội.
9. Nguyễn Duy Dũng (Chủ biên, 2012), ASEAN từ Hiệp hội đến Cộng đồng: Những vấn đề nổi bật và tác động đến Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội..
10. Chairman’s Statement of The 22nd ASEAN Summit, “Our People, Our Future Together” Bandar Seri Begawan, 24-25 April 2013.
11. Trương Duy Hòa (Chủ biên, 2013), Hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN: Bối cảnh tác động và những vấn đề đặt ra, Nxb KHXH, tr.258.
12. Võ Minh Tập (2013), Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế của Việt Nam theo lộ trình AEC 2015, Sách Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đào tạo nhân lực trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế”, Nxb Thế giới, HN.
13. Nguyễn Quang Thái (2014), Cạnh tranh toàn cầu: Việt Nam đã tiến bộ nhưng chưa đủhttp://canhtranhquocgia.vn.
14. Đại học kinh tế (VNU), (2013), Tài liệu Hội thảo quốc tế: “Tham gia vào Cộng đồng kinh tế ASEAN – Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam, Hà Nội.
15. Đại học kinh tế (ĐHQG HN)& Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG HCM), (2014), Kỷ yếu Hội thảo “Bối cảnh quốc tế mới và tác động tới Cộng đống kinh tế ASEAN, HCM.
16. Website: www.asean.org

 







[1] Cộng đồng kinh tế (ASEAN Economic Community-AEC) là một trong ba trụ cột chính của Cộng đồng ASEAN (AC), cùng với AEC là Cộng đồng chính trị-an ninh (ASEAN Political Security Community-APSC) và Cộng đồng văn hóa-xã hội (ASEAN Social and Culturanl Community-ASCC).
[2] Trong Tầm nhìn ASEAN 2020 đã nhấn mạnh xây dựng ASEAN thành một khu vực kinh tế ổn định, phồn vinh và có khả năng cạnh tranh cao; có sự chu chuyển tự do hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và sự chu chuyển tự do hơn đối với nguồn vốn, kinh tế phát triển đồng đều, nghèo đói, sự chênh lệch về xã hội và kinh tế được giảm bớt vào 2020.
[3] ASEAN Economic Community Blueprint, ASEAN Secretariat, January 2008, p.5.
[4] ASEAN Economic Community Blueprint, ASEAN Secretariat, January 2008, p.3.
[5] Nguyễn Duy Dũng (Chủ biên, 2012), ASEAN từ Hiệp hội đến Cộng đồng: Những vấn đề nổi bật và tác động đến Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội, tr.32.
[6] Xem kết quả cụ thể về việc thực hiện các biện pháp của 4 trụ cột của ASEAN tại: ASEAN Economic Community scorecard, ASEAN Secretariat, Jakarta, March 2012, p.8-15.
[7] Chairman’s Statement of The 22nd ASEAN Summit, “Our People, Our Future Together” Bandar Seri Begawan, 24-25 April 2013.
[8] Nguồn: Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN trù bị và Hội nghị Hội đồng Cộng đồng Kinh tế ASEAN lần thứ 11 trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 24, http://www.moit.gov.vn/vn/tin-tuc/3147/hoi-nghi-bo-truong-kinh-te-asean-tru-bi-va-hoi-nghi-hoi-dong-cong-dong-kinh-te-asean-lan-thu-11-trong-khuon-kho-hoi-nghi-cap-cao-asean-lan-thu-24.aspx

[9] Tiêu chí xét mức độ cạnh tranh gồm: 12 nhân tố chính của mức độ cạnh tranh, cung cấp cái nhìn toàn cảnh về tình hình cạnh tranh ở các nước trên thế giới. Các nhân tố này là: thể chế, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô, sức khỏe và giáo dục, mức độ hiệu quả của thị trường hàng hóa, thị trường lao động, sự phát triển thị trường tài chính, công nghệ thông tin, quy mô thị trường, sự tinh vi trong kinh doanh và cải tiến.

[10] Nguyễn Quang Thái (2014), Cạnh tranh toàn cầu: Việt Nam đã tiến bộ nhưng chưa đủ,  http://canhtranhquocgia.vn.

[11] ACB (2012), Asian Development Outlook Supplement Update, December 2012.
[12] Tăng trưởng GDP của các nước trong khu vực năm 2012: Singapore (1,3%), Malaysia (5,6%), Philippin (6,6%), Thái Lan (5,8%), Indonesia (6,2%), Campuchia (8,4%)…
[13] ADB (2011), Asian Development Outlook 2011, Philippines.
[14] Nếu so sánh với các nước trong ASEAN thì khoảng cách chênh lệch giữa lạm phát với tốc độ tăng GDP của Việt Nam vẫn còn khá lớn. Năm 2012, GDP của Campuchia tăng 7% và tốc độ tăng CPI chỉ 2,5%. Hai chỉ tiêu tương ứng của Lào là 7,93% và 4,73%. Malaysia là 5,64% và 1,2%; Philippines là 6,81% và 3%; Thái Lan là 6,49% và 3,63%. Tốc độ tăng CPI năm 2013 của Việt Nam hơn 6%, tuy thấp hơn mức tăng trên 8% của Indonesia và gần 7% của Lào nhưng vẫn còn cao hơn so với tốc độ tăng CPI của nhiều nước trong khu vực.
[15] Dự báo tăng trưởng và lạm phát năm 2014-2015, http://www.tapchitaichinh.vn/Kinh-te-Dau-tu/Du-bao-tang-truong-va-lam-phat-nam-2014-va-2015/48266.tctc
[16] Trương Duy Hòa (Chủ biên, 2013), Hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN: Bối cảnh tác động và những vấn đề đặt ra, Nxb KHXH, tr.258.
[17] Trong đó, xét về cơ cấu đóng góp vào kim ngạch xuất – nhập khẩu chủ yếu vẫn đến từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, xuất khẩu đạt 88,4 tỷ USD (tăng 22,4%), cao gấp đôi khu vực kinh tế trong nước (đạt 43,8 tỷ USD, tăng 3,5%); nhập khẩu đạt 74,5 tỷ USD (tăng 24,2%) cũng cao hơn mức 56,8 tỷ USD (tăng 5,6%) của khu vực quốc doanh. Thương mại của khu vực này trong những năm gần đây luôn duy trì ở mức thặng dư cao và có xu hướng tăng mạnh, xuất khẩu lần lượt chiếm 56,9% - 63,1% - 61,4% và nhập khẩu chiếm 45,7%  - 52,7% - 56,7% kim ngạch từ năm 2011 đến 2013.
[18] ASEAN Economic Community Chartbook 2012, ASEAN Secretariat, Jakarta, January 2013, p.17; Năm 2012 giảm xuống còn 24,3%. 

Bài đăng tại, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Hướng tới Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và một số gợi ý chính sách đối với Việt Nam”, Đại học kinh tế (ĐHQG Hà Nội) và Ban kinh tế Trung ương, Hà Nội, ngày 28/10/2014, tr.113-124.